CUỐN SÁCH CỦA THOTH

Thoth là vị thần mang hình dạng thân người, đầu cò (hoặc khỉ đầu chó) trong thần thoại Ai Cập. Ông đại diện cho trí tuệ, cai quản toàn bộ những văn bản và tri thức của thế gian. Tương truyền, thần Thoth có một cuốn sách thần bí mà người ta thường gọi là “The book of the dead” (Cuốn sách của người chết” hay đơn giản là “The book of Thoth” (Cuốn sách của Thoth). Đây là cuốn sách ma thuật chứa đựng vô vàn kiến thức trên thế gian mà thần Thoth đã ghi chép lại. Người ta tin rằng kẻ nào đọc được cuốn sách của thần Thoth sẽ có thể giải mã mọi bí mật trên đời, điều khiển các nguyên tố của tự nhiên (lửa, nước, đất và gió). Ngoài ra, người đọc cuốn sách còn có thể hiểu được ngôn ngữ của động vật, giao tiếp được với các vị thần. Chính vì vậy không khó giải thích khi cuốn sách của thần Thoth trở thành một báu vật quyền năng được những kẻ tò mò và đầy tham vọng săn lùng, mơ ước.

Tuy nhiên, cuốn sách thần bí này không hề dễ đoạt được tẹo nào. Theo truyền thuyết, cuốn sách của thần Thoth được cất giữ trong một chiếc hộp bằng vàng, chiếc hộp bằng vàng được đựng trong một chiếc hộp bằng ngà voi, hộp ngà voi được đựng trong một hộp gỗ, hộp gỗ đựng trong một hộp bằng đồng, hộp đồng đựng trong một hộp bằng sắt, hộp bằng sắt này được chôn dưới đáy dòng sông Nile chảy qua thị trấn Koptos ở Ai Cập, bao quanh cái hộp là một lũ bọ cạp và một con rắn bất tử bảo vệ chiếc hộp (nghe đã thấy chùn bước rồi). Truyện kể rằng cuối cùng cũng có một con người tìm thấy chiếc hộp, chiến thắng con rắn và đoạt được cuốn sách thần, đó là chàng hoàng tử Neferkaptah dũng cảm. Thế nhưng, chẳng lâu sau đó, chàng đã phải nhận sự trừng phạt của thần linh, đứa con trai yêu quý của chàng qua đời. Neferkaptah tự sát và bị nguyền rủa trở thành một bóng ma mãi mãi ám theo cuốn sách. Một số kẻ sau này đoạt được cuốn sách rồi cũng bị bóng ma của Neferlaptah trừng phạt. Cuốn sách biến mất không còn tung tích. Đây là một bài học cho con người, tốt nhất đừng nên mó tay vào hàng của các vị thần.

BỘ LÔNG CỪU VÀNG

Trong thần thoại Hy Lạp có sử thi về chàng Jason và đoàn thủy thủ Argonaut trong chuyến hành trình đi tìm bộ lông cừu vàng. Để hiểu rõ về bộ lông cừu quý giá này, chúng ta phải bắt đầu câu chuyện từ 2 anh em Phrixus và Helle, những đứa con của nhà vua xứ Boeotia. 2 đứa trẻ bị mẹ kế hãm hại và suýt chút nữa bị chính cha mình đem đi hiến tế, may thay, trong phút sinh tử, từ trên trời bay xuống một con cừu lớn với đôi cánh của loài chim và bộ lông vàng óng như vàng, kịp thời cứu thoát 2 đứa trẻ mang đi. Con cừu lông vàng này là một linh thú vô cùng thông minh mạnh mẽ, có thể hiểu tiếng người, chạy nhanh như ngựa mà một ngày có thể bay xa ngàn dặm. Nó là con cừu năm xưa thần Hermes đã tặng cho nàng Nephele- mẹ của 2 đứa trẻ.
Con cừu vàng chở 2 anh em bay qua nhiều đồi núi, cánh rừng, cách xa vương quốc của người cha và mẹ kế độc ác. Rất tiếc khi bay qua một eo biển, cô em gái Helle đã ngã khỏi lưng cừu và tử nạn. Người anh trai Phrixus may mắn hơn, được con cừu đưa đến xứ Colchis an toàn. Chàng được đức vua ở đây nhận nuôi và gả con gái cho. Để tạ ơn các vị thần, Phrixus đã hiến tế con cừu vàng (phũ vậy). Bộ lông của con cừu, chàng đem treo trên một cành cây trong khu rừng thiêng của thần Chiến tranh Ares. Thần Ares đã cử một con rồng nguy hiểm đến canh gác bộ lông cừu. Con rồng chứ Colchids không bao giờ ngủ này là một trong những đứa con của Echidna và ác thần Typhon.
Các chiến binh Hy Lạp, rất muốn chiếm được bộ lông cừu vàng, đặc biệt là chàng Jason, người thừa kế ngai vàng cứ Iolcos. Để chứng minh quyền thừa kế hợp pháp của mình, Jason buộc phải lập nên một kỳ tích. Vậy là chàng lãnh đạo những chiến binh mạnh mẽ nhất Hy Lạp lúc bấy giờ, trên con tàu Argos – nhờ sự hỗ trợ của các vị thần, giong buồm đi đến Colchis. Trải qua vô vàn thử thách gian lao, Jason và thủy thủ đoàn cuối cùng cũng giáp mặt với con rồng Colchis. Họ ru ngủ con quái vật và đoạt được bộ lông cừu vàng huyền thoại. Chàng Jason trở về quê hương với bộ lông cừu vàng và chiến tích lẫy lừng, được công nhận là một vị vua đích thức. Câu chuyện và cái kết của Jason cũng không hẳn là happy-ending, các bạn có thể tìm đọc.
Bộ lông cừu vàng, trên thực tế có lẽ cũng chẳng có phép thuật gì đặc biệt, tuy nhiên nó vẫn được coi là một báu vật có một không hai trên trần gian có lẽ bởi nó biểu trưng cho sức mạnh, lòng dũng cảm và thiên mệnh của một vị vua hay một người anh hùng. Kẻ nào sở hữu bộ lông cừu vàng cũng tức là kẻ chiến thắng, được thiên hạ ghi nhận như một chiến công lẫy lừng, mà xét cho cùng, đối với những chiến binh Hy Lạp – công danh và những chiến tích để đời chính là báu vật cả đời họ đeo đuổi.

P/s: Lại kể, trong thủy thủ đoàn đi tìm bộ lông cừu vàng ban đầu còn có sự tham gia của Heracles – người anh hùng vĩ đại nhất Hy Lạp. Ở đoạn đầu của cuộc hành trình, theo sự sắp đặt của các vị thần, Heracles bị bỏ thủy thủ đoàn bỏ lại, bởi chàng sẽ phải thực hiện 12 kỳ công vĩ đại sắp tới. Thật may cho Jason, nếu có “hàng khủng” như Heracles đi cùng, có lẽ vinh quang đã chẳng thuộc về chàng Jason.

CON DẤU CỦA VUA SOLOMON

Solomon – vị vua thứ 3 của vương quốc Israel, là vị vua huyền thoại nổi tiếng khắp thế giới vì sự thông thái và khôn ngoan. Trong thời đại ông trị vì, Israel trở thành một trong những vương quốc hùng mạnh và giàu có bậc nhất. Nhờ sự thông thái của Solomon, các vị quân vương, quý tộc và vô vàn dân thường từ khắp thế giới đều lặn lội đến gặp ông để xin những lời khuyên hoặc giải đáp những bí ẩn. Solomon nổi tiếng là vị vua giàu có với khối lượng tài sản, vàng bạc châu báu khổng lồ. Cho đến ngày nay, kho báu của vua Solomon vẫn là một dấu hỏi khiến nhiều kẻ mơ tưởng.
Tuy nhiên, ngoài sự thông thái và kho báu khổng lồ, một điều đặc biệt khiến vua Solomon trở thành huyền thoại bởi ông còn có khả năng triệu hồi và sai khiến 72 chúa quỷ dưới địa ngục thông qua những nghi thức và kết ấn bí mật (mà hiện nay đang được rao bán trên Amazon với gía chưa đến 20 đô). Đây đều là những con quỷ hùng mạnh, có thể mang đến cho người triệu hồi chúng vàng bạc châu báu cũng như nhiều khả năng đặc biệt (nhìn trước tương lai, dịch chuyển tức thời, lấy mạng kẻ thù…). Và để điều khiển, kìm chế những con quỷ đáng sợ này, Solomon phải nhờ đến một con dấu đặc biệt được in trên mặt một chiếc nhẫn bằng đồng thau và sắt mà ông đeo. Tương truyền, trên con dấu này có khắc tên của Chúa Trời, là báu vật của Thiên đàng ban tặng cho vua Solomon, có thể kiểm soát, giam giữ và tiêu diệt quỷ dữ. Có lẽ con dấu này mới là bảo vật quý giá nhất trong cả đống kho tàng của vua Solomon huyền thoại.

CHÉN THÁNH

Chén Thánh (Holy Grail) tương truyền chính là chiếc chén mà Chúa Jesus đã dùng trong Bữa ăn cuối cùng. Người ta đồn rằng Chén Thánh chứa nhiều quyền lực , sức mạnh vô biê và cả sự trường sinh bất tử mà sẽ ban cho kẻ nào may mắn sở hữu nó, khiến biết bao kẻ thèm muốn và truy lùng suốt 2000 năm qua cũng như trở thành một trong những chủ đề huyền bí và hấp dẫn nhất, là nguồn cảm hứng cho rất nhiều tác phẩm hội họa, tiểu thuyết và phim ảnh.
Chính vì sự huyền bí của mình mà xuyên suốt lịch sử, người ta đã kể rất nhiều phiên bản khác nhau về câu chuyện xung quanh chiếc Chén Thánh. Một trong những giả thuyết được kể đến nhiều nhất về nguồn gốc của Chén Thánh thì cho rằng thuở xa xưa, lúc Lucifer còn là một thiên thần quyền lực trên Thiên Đàng, hắn ta có đội một chiếc vương miện có gắn một viên đá lục bảo. Khi Lucifer bị trục xuất khỏi thiên đàng, viên ngọc bị bong ra khỏi vương miện của hắn và rơi xuống trần gian. Ai đó đã nhặt được viên ngọc và tạo ra một chiếc chén (hoặc đúc viên ngọc đó vào một chiếc chén), thế rồi nó thực sự trở nên nổi tiếng khi chúa Jesus dùng nó trong bữa ăn cuối cùng. Tương truyền chiếc chén sau đó được sử dụng để hứng máu của Jesus khi ông bị đóng đinh.

Một nhân vạt nổi tiếng khác trong truyền thuyết gắn liền với những giai thoại về Chén Thánh đó chính là vua Arthur và các hiệp sĩ Bàn Tròn. Vua Arthur sau khi tạo lập vương quốc Camelot, đánh đuổi những kẻ thù xâm lăng thì mục tiêu sở hữu Chén Thánh trở thành nỗi khao khát và ước mơ lớn nhất đối với ông cũng như các hiệp sĩ. Họ bỏ lại gia đình và vương quốc, rong ruổi khắp mọi miền để lần theo tung tích báu vật thần bí này. Đến cuối cùng các hiệp sĩ đi tìm Chén Thánh người thì bỏ mạng, kẻ thì bị thương nặng trở về. Tương truyền trong số các hiệp sĩ của vua Arthur, chỉ duy nhất có Galahad – con trai của hiệp sĩ Lancelot (người đã hỗ trợ Guinevere cắm sừng lên đầu vua Arthur ý), được cho rằng là hiệp sĩ có trái tim thuần khiết nhất, có thể nhìn thấy Chén Thánh. Không bao giờ người ta còn thấy Galahad trở về hay nắm được bất cứ tung tích gì của chàng, có người nói rằng Galahad đã tình nguyện ở lại bảo vệ Chén Thánh để nó tránh xa bàn tay con người.
Chính vì sự thiêng liêng và quý giá của Chén Thánh mà cho đến ngày nay, rất nhiều địa điểm khắp các nước châu Âu đều tự nhận rằng họ đang cất giữ Chén Thánh bản chuẩn, một phương thức thu hút du khách hiệu quả.

VIÊN ĐÁ TRIẾT GIA

Viên đá Triết gia (Philosopher’s stone) là bảo vật huyền thoại được săn lùng nhiều nhất thời Trung cổ cho đến cuối thế kỷ 17 – thời đại của những thuật giả kim gây sốt khắp châu Âu. Theo truyền thuyết, viên đá này có khả năng biến các chất liệu kim loại như đồng, sắt… thành vàng và bạc ( vì thế còn được gọi là Viên đá Tạo vàng),Người sở hữu “hòn đá triết gia” sẽ tạo ra được mọi vật chất, chữa lành tất cả bệnh tật, thắp sáng nơi tăm tối, hồi sinh người chết và giữ chìa khóa của sự bất tử. Các tài liệu của Flamel đã miêu tả cụ thể về hòn đá triết gia, nó có 2 màu là trắng, đỏ. Màu trắng dùng để tạo ra bạc, chữa bệnh, màu đỏ dùng để tạo ra vàng ròng và làm bất tử mọi thứ. . Well, vừa bất tử lại giàu có, bảo sao nó được cả nhân loại săn lùng.
Theo nhiều câu chuyện viết lại thì viên đá Triết gia được tạo ra bởi Nicolas Flamel – một nhà giả kim người Pháp sống ở thế kỷ 15. Không rõ thực hư chuyện ông ta có thành công trong việc biến kim loại thành vàng hay không nhưng trong cùng quãng thời gian đó, Nicolas trở nên giàu có một cách bất thường cũng như việc 2 vợ chồng ông, qua nhiều năm, vẫn giữ được dung mạo trẻ trung một cách lạ thường.

Các câu chuyện về Nicolas Flamel còn kể lại rằng ông có thể tạo ra viên đá Triết gia là nhờ các kiến thức đọc được trong một cuốn sách kỳ bí ông được tặng. Tương truyền đó là cuốn sách của Abraham – tổ phụ của dân tộc Do Thái theo Kinh Thánh.
Sau khi Nicolas và vợ qua đời, một số kẻ tham lam đã lén đào trộm mộ của 2 vợ chồng lên hòng tìm kiếm tung tích của viên đá thần kỳ này, nhưng thật lạ lùng, dưới mộ không hề có xác chết nào. Điều này dấy lên nghi ngờ rằng Nicolas Flamel thực sự đã luyện được thuật trường sinh bất tử và ông ta vẫn sống sót cho đến tận ngày nay, che giấu thân phận và cả báu vật quý giá nhất lịch sử con người dưới những danh tính khác nhau trên khắp thế giới.
TAM CHỦNG THẦN KHÍ

Đây là bộ ba thần khí quan trọng và mang ý nghĩa thiêng liêng, tôn nghiêm nhất của đất nước Nhật Bản. Theo truyền thuyết, 3 thần khí này là những bảo vật của nữ thần Mặt Trời Amaterasu – vị thần quan trọng nhất trong thần đạo Nhật Bản. 3 món thần khí đó bao gồm:
– Thanh gươm Kusanagi (Thảo thế kiếm) – thanh kiếm lấy từ trong xác con rắn 8 đầu Orochi khi thần Bão tố Susanoo chém chết nó vì thế tượng trưng cho lòng dũng cảm.
– Gương chiếu yêu Yata no Kagami (Bát chỉ kính), tượng trưng cho sự khôn ngoan
– Viên ngọc Yasakani no Magatama ( Bát xích quỳnh khúc ngọc) tượng trưng cho lòng nhân từ.

Nữ thần Amaterasu trao ba thần khí này cho cháu trai mình là Ninigi no Mikoto và phái ông xuống quần đảo Nhật Bản lập nước. Tam chủng thần khí trở thành những thần vật biểu trưng cho hoàng gia Nhật Bản, tuy nhiên có lẽ qua truyền thuyết này, người ta còn muốn ám chỉ 3 đức tính quan trọng nhất của dân tộc Nhật Bản chính là dũng cảm, khôn ngoan và nhân từ. Bởi tính chất thần thoại của ba món đồ này, địa điểm cất giữ chúng không được xác nhận. Thế nhưng, người ta nghĩ rằng thanh gươm được cất giữ ở đền Atsuta ở Nagoya,viên ngọc được cất giữ ở hoàng cung Kokyo tại Tokyo chiếc gương thì được cất giữ ở Thần cung Ise ở tỉnh Mie. Ít nhất một trong ba món đồ không phải là phiên bản gốc.

RƯỢU THI CA

Bạn cứ tưởng tượng thế này, ở thời đại của những người Viking, chẳng có mạng xã hội hay là Iphone, đến cái rạp chiếu phim cũng chẳng có, chỉ có 2 cách để bạn có thể chinh phục một cô gái và thuyết phục cô ấy đẻ con trai cho, thứ nhất là to khỏe dũng mãnh như thần Thor, lao như điên trên chiến trường và múa rìu loạn cả lên. Cách thứ 2 là trở thành một người thông thái, ăn nói thông tuệ và miệng lưỡi luôn tràn đầy văn thơ.
Thực ra thì cách thứ nhất có thể còn dễ dàng hơn với người Viking. Chính vì vậy mà Rượu Thi ca (Mead of Poetry) trở thành một báu vật đáng khao khát của con người thời đó.
Theo truyền thuyết, thứ rượu kì lạ này có liên quan đến cái chết thương tâm của thần Kvasir. Ông là vị thần của Tri thức. Kvasir luôn chịu khó học hỏi và thường chu du khắp muôn nơi để thu thập các kiến thức, chính vì vậy mà chẳng có câu hỏi nào trên đời mà Kvasir không thể giải đáp.
Một ngày nọ, Kvasir bị 2 gã người lùn lừa đến nhà rồi giết chết (vì chúng ghen tị với trí tuệ của ông). Chúng lấy máu của thần Kvasir, trộn với rượu mật ong của người lùn, đem ủ và tạo ra một loại rượu mới vô cùng thơm ngon, không những thế khi uống vào lại khiến người ta trở nên thông minh, hiểu biết và có khả năng sáng tác văn thơ. Một kẻ ngu đầu dốt nát nếu uống loại rượu này cũng có thể trở thành học giả hay thi sĩ. Hai tên người lùn cũng không giữ thứ rượu quý giá này được lâu. Về sau, nó rơi vào tay gã khổng lồ Suttung. Suttung giấu các thùng rượu Thi ca dưới lòng núi Hnitbjorg và cho con gái hắn là Gunnlod canh giữ.
Thần Odin, ngồi trên ngai cao của mình ở Asgard đã thấy rõ mọi chuyện. Với một vị thần đam mê tri thức như Odin, ông không thể để thứ rượu quý giá này rơi vào tay lũ khổng lồ hay người lùn. Bằng nhiều phép biến hóa, cuối cùng Odin cũng lừa được anh trai của Suttung dẫn mình đến chỗ cất giấu rượu và giúp ông khoan thủng lòng núi. Odin biến thành một chàng trai quyến rũ, đồng ý ngủ với nàng khổng lồ Gunnlod trong 3 đêm để đổi lấy 3 thùng rượu Thi ca (vì rượu bán thân).
Sau 3 đêm loan phụng đảo điên, thần Odin ôm ngay 3 thùng rượu ra cánh đồng uống sạch sành sanh rồi hóa thành con đại bàng bay về Asgard (chắc sợ đến già). Suttung nhanh chóng phát hiện ra và cũng hóa thành đại bàng đuổi theo Odin nhưng các vị thần ở Asgard đã kịp trông thấy và ra tay ngăn chặn tên khổng lồ. Thần Odin (trong lốt con đại bàng), há mỏ nhổ đống rượu đang ngậm trong họng xuống cho các vị thần cùng uống, từ đó mà vị nào ở Asgard cũng thông tuệ, tài giỏi. Tương truyền, có một vài giọt rượu rơi xuống Midgard nên con người chúng ta được hưởng sái từ các thần, giờ mới thông minh như thế, mới xuất hiện những học giả, nhà thơ, nhà văn cho đến bây giờ. Đương nhiên, vì chỉ là “bản dùng thử” nên trí thông minh của con người chẳng bao giờ sánh nổi các vị thần dùng bản full cả.

CÂY ĐÈN THẦN

Là một báu vật quá quen thuộc với chúng ta qua câu chuyện Aladdin trong thế giới Nghìn lẻ một đêm huyền bí. Trong thần thoại Ả-rập thì những vật như cây đèn, chai thủy tinh, nhẫn hay hộp thường là những công cụ để thần linh và những pháp sư phong ấn Jinn – những tà thần mạnh mẽ và nguy hiểm (Nếu các bạn đọc Dragon Ball thì người ta còn phong ấn quái vật bằng cả…nồi cơm điện nữa.). Tương truyền Thượng đế đã tạo ra 3 tạo vật có trí thông minh. Đó là Thiên thần, được tạo ra từ ánh sáng, Con người được tạo ra từ đất sét và Jinn được tạo ra từ lửa. Đa phần các Jinn đều là những sinh vật tà ác, rất ít trong số họ có lòng nhân từ, tuy vậy vẫn không ngăn cản những kẻ tham lam mong muốn được sở hữu một cây đèn thần, nơi mà, rất có thể đang giam giữ một vị thần quyền năng. Họ tin rằng các vị thần đèn này bị ràng buộc bởi một luật lệ và sẽ phải phục tùng người sở hữu cây đèn như chủ nhân của mình, đáp ứng cho họ 3 điều ước trước khi hoàn toàn được tự do. Bạn muốn giàu có như đế vương, muốn trở nên mạnh mẽ, bất tử hay muốn chiếm trọn trái tim một người đẹp.. .Rất đơn giản, chỉ cần đưa tay miết nhẹ cây đèn thần và yêu cầu mong muốn của mình. Nghe đã thấy thích mê rồi!
Không biết các bạn thế nào chứ tôi thấy cây đèn thần rất giống cái ấm pha chè của người Việt ta, đã ai thử miết miết tay lên chưa? hehe
NHỮNG PHIẾN ĐÁ ĐỊNH MỆNH

Trong thần thoại của người Lưỡng Hà tồn tại một thần vật quý báu, đó là bộ 3 phiến đá của định mệnh, 1 phiến tượng trưng cho tương lai, một phiến là quá khứ và một phiến là hiện tại và do thần Enlil – vị thần của gió nắm giữ.
Theo miêu tả, những phiến đá này đều có lỗ ở giữa để gắn vào một cây trục giúp những phiến đá có thể quay tròn liên tục (như số phận con người luôn chuyển động và biến đổi không ngừng vậy). Cũng tương tự như cuốn sách của thần Thoth trong thần thoại Ai Cập, trên những phiến đá Định mệnh có ghi chép những kiến thức về vũ trụ và thế giới, sự tồn tại của thần linh và vạn vật… Sở hữu những phiến đá này cũng tức là sẽ có khả năng thấu hiểu vạn sự trên thế gian, nắm giữ những tri thức bí mật của vũ trụ, có được những quyền năng của một vị thần tối cao. Không những thế, vì là những phiến đá của Định mệnh, người nắm giữ chúng còn có thể tác động, thay đổi số phận của chính mình và những người khác… Những quốc gia sở hữu chúng cũng có thể khiến quân đội của mình trở nên hùng mạnh, bất bại trên chiến trường. Có lẽ chính vì sự toàn năng của thần vật này mà các vị thần đã cố gắng giữ gìn để nó không bao giờ có cơ hội lọt vào tay một người trần nào, (và có vẻ họ làm việc này khá tốt).
Một trong số những kẻ hiếm hoi đánh cắp được những phiến đá Định mệnh khỏi tay thần Enlil là Anzu – một con ác điểu khổng lồ nửa sư tử nửa đại bàng. Ngay khi những phiến đá bị đánh cắp, thế giới dường như mất đi sự cân bằng vốn có và rơi vào trạng thái hỗn loạn. Các vị thần nhanh chóng cử thần Ninurta – vị thần săn bắn và chiến tranh, dùng cây cung của ông giết chết con quái vật, đoạt lại những phiến đá.
Trải qua nhiều giai đoạn biến động, nhữnng phiến đá cũng không còn thuộc sở hữu của riêng thần Enlil nữa. Các vị thần lập ra một hội đồng bình chọn và những phiến đá lần lượt được trao cho Enki, Tiamat. Trong cuộc nội chiến các vị thần, Tiamat treo 3 phiến đá cho con trai và cũng là chiến tướng của bà – thần Kingu để tăng sức mạnh. Thế nhưng Kingu lại bị đánh bại bởi Marduk – con trai của Enki. Marduk giết Kingu, đoạt lấy 3 phiến đá Định mệnh, trở thành người lãnh đạo chư thần và lập ra vương quốc Babylon hùng mạnh.

CHIẾC HỘP PANDORA

Đây là một ví dụ tiêu biểu cho việc không phải thứ báu vật nào của thần linh cũng đều tốt lành đối với chúng ta.

Trước khi giải thích chiếc hộp Pandora là gì, người viết xin kể lại một chút về nguồn gốc của loài người chúng ta trong thần thoại Hy Lạp, điều có liên quan mật thiết với câu chuyện về chiếc hộp này.

Sau cuộc chiến giữa các Titan và các Olympian, Zeus và các anh chị em thắng trận. Họ trở thành các vị thần cai quản Olympus cũng như thế gian, còn các Titan bao gồm cả cha họ là Cronus thì bị giam cầm dưới địa ngục Tartarus
Có 2 Titan thoát khỏi cảnh ngục tù đó là Prometheus và Epimetheus, bởi 2 ông này không tham gia vào cuộc chiến. Zeus đã giao cho 2 ông nhiệm vụ tạo ra con người và các sinh vật sống khác trên trần gian.

Prometheus lấy đất sét nặn ra con người, rồi thần Athena thổi sự sống vào. Epimetheus có nhiệm vụ trao tặng những khả năng đặc biệt cho muôn loài như sự nhanh nhẹn, tốc độ, sức mạnh, đôi cánh ….Không may rằng, đến khi Prometheus tạo ra con người thì Epimethus đã trao tặng hết các khả năng tốt cho các loài khác, chẳng còn lại gì cho loài người chúng ta.

Prometheus, vì rất yêu quý con người, đã tạo hình cho con người có dáng đứng thẳng như các vị thần, và ông còn lén ăn cắp ngọn lửa của các vị thần, đem xuống cho loài người. Nhờ có lửa của Prometheus, loài người yếu đuối không còn sợ bóng tối và thú dữ, dần dần mới phát triển cho đến ngày nay.

Khi biết chuyện, thần Zeus vô cùng nổi giận và quyết định trừng phạt Prometheus cùng loài người.

Với Prometheus, Zeus xích ông vào ngọn núi Caucasian và ngày này sai một con chim khổng lồ đến khoét ruột gan ông, bắt Prometheus phải chịu đựng nỗi đau đớn đó hàng ngày. Về sau, chính anh hùng Heracles – con trai của Zeus, đã giết chết con chim, chặt đứt xích và giải thoát cho Prometheus.

Còn đối với loài người, thần Zeus có một cách trừng phạt khác. Zeus ra lệnh cho thần thợ rèn Hephaestus nặn ra một người phụ nữ tên là Pandora. Nàng là người phụ nữ đầu tiên của loài người.

Các vị thần đều trao tặng những món quà cho Pandora. Nữ thần Athena cho nàng quần áo, Aphrodite cho nàng sắc đẹp, thần Appollo cho nàng khiếu âm nhạc, thần Hermes cho nàng khả năng nói…

Sau đó, thần Zeus gả Pandora cho Epimetheus và để họ sống chung với loài người. Món quà cuối cùng mà Zeus tặng cho Pandora là một chiếc hộp. Đó cũng là sự trừng phạt của Zeus.

Mặc dù Prometheus đã cảnh báo Epimetheus chớ nên nhận món quà của Zeus, nhưng Epimetheus lại quá chiều lòng vợ mình – nàng Pandora xinh đẹp mà giữ lại món quà ( đấy cái tội nghe lời vợ là không bao giờ khá được mà).
Tuy đã được căn dặn không được mở hộp ra, nhưng Pandora không chiến thắng nổi sự tò mò, mở nắp hộp, và mọi điều xấu xa, độc ác trong đó thoát ra. Từ đó, con người mới có những đức tính xấu như lòng tham, sự đố kỵ, giả dối, phản bội … Chúng ta hận thù, tranh giành và chém giết nhau, tạo ra những cuộc chiến tranh cũng là do chiếc hộp của Pandora.

Tuy vậy, người ta nói rằng, vẫn còn một điều tốt đẹp hiếm hoi sót lại trong chiếc hộp của Pandora, đó là niềm hy vọng. Nhờ có hy vọng, con người mới có thể đứng vững và vượt qua mọi thử thách, khó khăn của cuộc đời.

Về sau, cụm từ “Chiếc hộp Pandora” cũng là để ám chỉ một hành động nhỏ bé nhưng có thể gây ra tác hại rất lớn, hay chỉ những thứ hấp dẫn con người ta nhưng ẩn chứa những điều không tốt lành bên trong.

Qua câu chuyện truyền thuyết về chiếc hộp Pandora, cũng có thể thấy thông điệp mà người xưa để lại rằng nguồn cơn của mọi thói hư tật xấu, tai họa của loài người, đều xuất phát từ phụ nữ.

Từ ngàn xưa, sử sách đã ghi chép lại vô số câu chuyện về những tai họa mang tầm quốc gia xảy ra chỉ bởi phụ nữ. Phải chăng thực sự phụ nữ là nguồn cơn của những gì xấu xa nhất, hay đó là sự đổ lỗi cho quyết định sai lầm của những bậc quân vương bị mất nước, truyền thống trọng nam khinh nữ vì thế mà ra đời?

Mọi sự có thể đúng, có thể sai, đó là tùy cách cảm nhận của mỗi chúng ta vậy!

ĐÀO TIÊN

Ok, trong thần thoại Trung Quốc xuất hiện rất nhiều bảo bối thần kỳ nhưng tôi dám các chắc với các bạn, không phải gậy Như Ý của Tôn Ngộ Không hay mấy lọ hồ lô biết hút người của Thái thượng lão quân… mà thứ bảo vật được con người khao khát nhất chính là mấy quả đào tiên của Tây vương mẫu.
Hãy thử nhớ lại những lần xem Tây du ký, chắc hẳn bạn không dưới một lần nuốt nước bọt khi nhìn cảnh thằng khỉ cắn hết quả đào này đến quả đào kia rồi vứt đi, thầm ước rằng giá như mình được một quả bé nhất thôi cũng được.
Theo truyền thuyết, những quả đào Tiên được trồng trong vườn của Tây Vương Mẫu trên núi Côn Lôn. Tổng cộng có 3600 cây đào, cây nào cũng to lớn xanh tốt, trường tồn với thiên địa. Mỗi cây đào cần mất 1000 năm mới ra lá, nở hoa và mất thêm 3000 năm mới ra được quả chín, trái nào cũng to tròn thơm ngon, đều là tạo vật hấp thu tinh khí trời đất, thần linh ăn vào thì gia tăng đạo hạnh, người phàm ăn vào thì trường sinh bất lão. Thậm chí người thường chỉ cần ngửi mùi đào thôi cũng có thể sống đến hơn 300 năm, không những thế gỗ của cây đào còn có tác dụng trừ tà đuổi ma – quả là thứ cực phẩm trên đời.
Còn trích lời mô tả của vị thổ địa trông coi vườn đào trong phim Tây du ký thì: ” có những cây 3000 năm mới ra quả, ăn vào thì người mạnh khỏe nhẹ nhõm, những cây 6000 năm mới ra quả, ăn vào thì trường sinh bất lão, những cây 9000 năm mới ra quả thì ăn vào thọ ngang trời đất”.
Tương truyền, cứ 500 năm một lần, Tây Vương Mẫu lại tổ chức tiệc Bàn Đào, mời các vị thần tiên đến mừng sinh nhật mình, cũng là để thưởng thức những trái đào thơm ngon nhất. Đương nhiên các vị lịch sự chắc chỉ ăn hương ăn hoa là chính, đen thay event năm đo dính ngay anh khỉ Tôn Ngộ Không, chén bằng sạch hơn 3000 cây đào. Nếu tính từ thời điểm đó cho đến nay quãng độ hơn 1000 năm thì chắc còn lâu lắm chúng ta mới có cơ hội ngửi Đào Tiên (Cứ cho là 1 năm dưới hạ giới chỉ bằng 1 ngày trên thiên giới thì các vị thần tiên cũng phải đợi dài râu hơn 8 năm mới được chén Đào tiên tiếp, hehe).

BÀN TAY VINH QUANG

Đây là một truyền thuyết nổi tiếng trong giới đạo chích châu Âu thời xưa. Bàn tay Vinh quang (Hand of Glory) thực chất là một bàn tay khô của người chết, được những tay trộm mang theo bên mình như một tấm bùa may mắn mỗi khi thực hiện một phi vụ nào đó. Theo những lời đồn thổi, thì Bàn tay Vinh quang thực sự có những đặc tính ma thuật giúp cho chủ sở hữu có thể đạt đến đỉnh cao vinh quang của ngành đào tường khoét vách ví dụ như:
– Cầm theo Bàn tay Vinh quang khiến tên trộm có thể nhìn trong bóng tối hoặc khiến hắn trở nên vô hình
– Được sử dụng để làm một cây đèn thắp sáng, lửa sẽ không bao giờ tắt
– Có khả năng mở được mọi ổ khóa cho dù phức tạp nhất, kiên cố nhất
– Mỗi khi giơ ra có thể ru ngủ chủ nhà hoặc làm bất động những kẻ nhìn thấy
Một lợi ích quan trọng nữa, khi lấy các ngón tay trên Bàn tay Vinh quang để làm nến thắp sáng, nếu tất cả các ngón tay đều bắt lửa thì tức là mọi người trong ngôi nhà mà tên trộm đang đột nhập đều đã ngủ say, và một khi các ngọn lửa còn sáng thì tức là chưa có ai tỉnh dậy. Và đương nhiên, khi thắp lửa mà có một ngón tay không sáng thì tức là có người trong nhà đang thức, hoặc có thể là số lượng người trong ngôi nhà đó ít hơn số ngón tay (ít hơn 5). Điều này là vô cùng quan trọng và có thể là yếu tố mấu chốt giúp những tên trộm có làm ăn trót lọt hay không khi biết được số người có trong nhà, đã ngủ hay còn thức.

Vậy bàn tay Vinh quang được tạo ra như thế nào? Nếu dễ dàng có được thì hẳn ai cũng bỏ việc để đi làm đạo tặc mất. Ngoài việc phải là 1 kẻ to gan lớn mật, dám mang theo một bàn tay người chết trong người, thì việc chế tạo ra một bàn tay Vinh quang cũng khá kì công, Bàn tay được dùng để tạo ra thứ bùa này phải là tay của một tên trộm hoặc một tên tội phạm vừa bị treo cổ. Thông thường người ta sẽ chọn lấy bàn tay phải, nhất là của những kẻ bị treo cổ vì tội giết người, vì quan niệm cho rằng bàn tay phải thường sẽ khéo léo hơn (cũng có những kẻ thì cho rằng nên chặt lấy bàn tay trái để làm bùa sẽ tốt hơn, vì tay trái phù hợp với những việc làm sai trái). Bàn tay phải được lấy vào lúc nửa đêm, tốt nhất là trong khoảng thời gian diễn ra nguyệt thực. Máu phải được rút ra hết, sau đó phải đem bàn tay ngâm với một thứ dung dịch đặc biệt gồm muối và ớt trong 2 tuần, sau đó vớt ra đem phơi khô trong nhiều tháng (cứ như làm ô mai ý nhỉ). Trong toàn bộ quá trình chế tạo Bàn tay Vinh quang, tên trộm còn phải thực hiện những nghi thức và đọc những câu thần chú cần thiết. Thứ dầu để thắp sáng những ngón tay này cũng không hề tầm thường mà phải làm từ mỡ và tóc của người đã chết.

Tuy nhiên, theo truyền thuyết, cũng có một số phương pháp để các chủ nhà có thể sử dụng để ngăn ngừa và vô hiệu hóa ma thuật của thứ bùa hắc ám này bằng cách bôi lên cửa ra vào và cửa sổ một hỗn hợp gồm mật của mèo đen, mỡ của gà mái trắng và máu của một con cú, và nhất định phải được bôi vào ngày nóng nhất của mùa hè, nếu không sẽ không linh nghiệm. Xem ra cả tay trộm và chủ nhà đều khá vất vả chẳng ai kém ai nhỉ?

Funfact: Bàn tay Vinh quang đã từng xuất hiện trong phần đầu của Harry Potter và phòng chứa Bí mật, khi Draco Malfoy và cha đi đến tiệm Burgin và Burkes – một cửa hàng chuyên kinh doanh những đò vật hắc ám, Draco đã muốn bố nó mua cho nó bàn tay này.

SỌ PHA LÊ

Sọ pha lê là thứ báu vật gây tranh cãi nhất trong nhiều năm qua, chúng là 1 vật thể tinh tế được khắc hình sọ người, tuy nhiên ” Mật ngọt chết ruồi ” dù đẹp gấp mấy nhưng những hộp sọ này điều mang trong mình những sức mạnh tâm linh, siêu nhiên, những người chê cười hộp sọ điều có kết cục là cái chết . Nhiều người còn cho rằng chiếc hộp còn có thể nhìn thấu được tương lai, quá khứ . Cũng có 1 giả thuyết cho rằng, hộp sọ là do người ngoài hành tinh mang xuống hoặc là 1 báu vật của 1 quốc gia biến mất khỏi bản đồ như Atlantis,..

QUẠT BA TIÊU

Quạt Ba Tiêu sinh ra ở núi Côn Luân, tính hiện giờ thì ad chỉ thấy 2 cái, 1 cái của Thiết Phiến Công Chúa và 1 cái của Thái Thượng Lão Quân dùng để luyện Kim Đan .

Thứ bảo bối này có thể quạt một cái thì lửa tắt ngay , quạt hai cái thì tạo ra gió to ( dùng để quạt Hỏa Diệm Sơn ), quạt ba cái thì mưa xuống. Khi quạt nhầm con người bay tới 84000 dặm mới ngừng lại . Có thể biến to thu nhỏ giống cây gậy Như Ý của Lão Tôn .

GẬY NHƯ Ý

Khi nhắc đến Tôn Ngộ Không, người ta thường liên tưởng đến 1 con khỉ cầm 1 cây gậy sắt tiêu diệt yêu quái, giúp Đường Tăng qua nhiều kiếp nạn . Vậy cây gậy ấy tên gì ?
Đó là Gậy NHƯ Ý .
Gậy Như Ý có xuất phát từ Thủy Cung và là 1 món báu vật của Đông Hải Long Vương, đồng thời còn giúp trị thủy ngày xưa . Vào 1 ngày đẹp trời, có 1 con khỉ tự xưng danh là Tề Thiên Đại Thánh bay xuống thủy cung và xin 1 món vũ khí vừa sức mình để đại náo Thiên Cung, nhưng Long Vươg lấy hết vũ khí này đến vũ khí kia( nào là kiếm, đao, ..) vẫn không chịu nổi với sức lực của Ngộ Không, bắt đầu vợ của Long Vương mới nghĩ ra cách nếu Ngộ Không nhấc được cây gậy sắt khổng lồ đó thì nó sẽ là của Ngộ Không . Tưởng chừng như không thể nhưng có lẽ do định mệnh nên Ngộ Không đã dùng hết sức lực để nhấc bổng lên và biến cây gậy thu nhỏ lại . Lúc này cây gậy biến khỏi lớp vỏ cũ đóng rêu mà là 1 cây gậy tỏ ánh hào quang rực rỡ .

Theo mô tả trong truyện cây gậy ban đầu được mô tả là một trụ sắt dài hai trượng, rộng cả ôm. Chỉ khi Lão Tôn nhấc lên và kêu cậy gậy nhỏ hơn thì cây gậy liền theo ý mà thu bé lại. Gậy Như Ý được bịt vàng ở hai đầu cùng dòng chữ dọc thân gậy ghi “Như ý kim cô bổng”. Nặng một vạn ba ngàn năm trăm cân .
Theo như dòng chữ khắc dọc lên thân của gậy thì có nghĩa nếu chủ nhân của nó ra lệnh gì thì ngay lặp tức cây gậy đều tuân theo ” như ý ” chủ nhân .

RƯƠNG THÁNH TÍCH

Chiếc rương của người Do Thái là một thánh tích kể về những tấm bảng chứa mười điều răn dạy mà Moses đã thu nhận được từ Chúa. Những tấm bảng này còn được cho là một cách nói chuyện với Chúa. Vì vậy, người ta cho rằng chiếc rương chứa sức mạnh rất lớn khi những người Do Thái bị trục xuất khỏi Ai Cập, người ta cho rằng chiếc rương này đã giúp rẽ nước sông Jordan để những người Do Thái kia có thể trốn chạy. Tuy nhiên, khi rơi vào tay kẻ xấu, chiếc rương này sẽ mang những lời nguyền vô cùng khủng khiếp.

Khi Philistines cướp chiếc rương, người dân toàn bộ thành phố đã bị suy sụp vì căn bệnh trĩ do đó họ sớm phải trả lại chiếc rương cho chủ của nó, đó là những người Do Thái

Có nhiều cầu chuyện về cơn thịnh nộ của chiếc rương này trong kinh thánh. Nơi cất giữ chiếc rương này hiện nay vẫn chưa ai biết.Trong nhiều ghi chép cổ, có nhiều quy luật khi nắm giữ chiếc rương: hai chiếc sào để nâng rương không bao giờ được bỏ đi, chiếc rương cần phải được nâng lên vai trong quá trình di chuyển và bất cứ ai chạm vào chiếc rương này đều phải dẫn đến chết

SAMPO VÀ SỬ THI KALEVALA

Sampo ở đây không phải tên một vị anh hùng hay công chúa nào cả mà là tên một báu vật trong truyền thuyết, gắn liền với sử thi nổi tiếng Kalevala của người Phần Lan.

Trước hết phải giới thiệu qua, Kalevala được coi là bộ sử thi quốc gia của Phần Lan, do tác giả Elias Lonnrot sưu tầm từ những tích truyện dân gian và biên soạn lại vào năm 1835. Thần thoại Phần Lan và những câu chuyện trong Kalevala đã trở thành một trong những nguồn cảm hứng cho nhà văn Tolkien (tác giả Chúa Nhẫn) thời trẻ , giúp ông viết lên những tác phẩm fantasy kinh điển trong tương lai. Ngày 28 tháng 2 hàng nằm được chọn là ngày Kalevala, và cho đến ngày nay trở thành ngày văn hóa của người Phần Lan.
Phần nội dung chính của sử thi Kalevala kể về Vainamoinen – một ông già thông thái có gốc gác thần thánh, Ilmarinen – một thợ rèn xuất chúng và Lemminkainen – chiến binh vĩ đại.

Phần cầu chuyện về Sampo được kể trong chương thứ 10 của sử thi, liên quan đến Vainamoinen và chàng thợ rèn Ilmarinen. Vainamoinen trong hành trình của mình,lạc đến đến vùng đất Pohjona ở phương Bắc. Thống trị vùng đất này là mụ phù thủy Louhi, có nhiều tài phép, có thể bắt cả Mặt Trời Mặt Trăng đem nhốt trong hầm của mụ và đặc biệt, các cô con gái của mụ đều nổi tiếng xinh đẹp.
Louhi đồng ý thả Vainamoinen trở về quê hương là vùng đất Kalevala và hứa sẽ gả con gái cho Vainamoinen nếu ông có thể tạo ra Sampo một báu vật trong truyền thuyết, chưa từng được nghe kể qua về hình dáng hay xuất xứ của thần vật này.
Vainamoinen thú nhận rằng không thể tạo ra một thứ như Sampo, nhưng ông ta hứa sẽ gửi đến cho mụ phù thủy Ilmarinen – chàng thợ rèn nổi danh, người có thể tạo ra mọi thứ trên đời. Vainamoinen dùng phép thuật đưa Ilmarinen đến lâu đài của Louhi, lúc ban đầu chàng thợ rèn không đồng ý làm công việc này cho đến khi được hứa hẹn gả cho chàng cô con gái út – người xinh đẹp nhất trong những người con gái của Louhi. Vậy là Ilmarinen đồng ý rèn Sampo chỉ với nguyên liệu là một sợi lông cánh của con thiên nga, một ít sữa của một con bò, một ít lúa mạch và lông cừu.

Trong ngày đầu tiên, Ilmarinen lôi ra từ lò rèn một cây cung vàng. Đó là một vũ khí mạnh mẽ, nhưng nó quá độc ác và đòi hỏi mỗi ngày phải đoạt mạng một người, còn ngày lễ thì phải gấp đôi (nghỉ lễ tăng giá gấp đôi, đúng là hút máu người @@). Vì vậy Ilmarinen đập vỡ cây cung và vứt lại nó vào lò rèn.
Ngày thứ 2, chàng thợ rèn lôi từ trong lò ra hẳn một con thuyền lớn màu đỏ bọc cạnh vàng. Nó là một con thuyền đẹp đẽ nhưng luôn thích lao vào những trận chiến, vì vậy cũng bị đem trở lại lò lửa.
Ngày thứ ba, trong lò rèn lôi ra được một con bò cái (bắt đầu càng ngày càng phi lý rồi đấy). Con bò chỉ mải ngủ và sữa cứ chảy liên tục từ bầu vú của nó một cách phung phí, thế là Ilmarienen bắc một nồi lẩu. (hehe đùa đấy).
Ngày thứ tư, Ilmarinen lôi ra một cái cày bọc vàng. Cái cày đẹp quá nhưng chỉ biết dùng để cày bừa, thế là chàng thợ rèn cũng ngán ngẩm vứt lại nó vào lò sưởi.
Đến ngày thứ 5, cuối cùng Sampo cũng xuất hiện. Tôi cũng chẳng biết phải miêu tả cái vật này như thế nào nữa. Bạn hãy tưởng tượng nó là một cái cối xay hạt bằng vàng lấp lánh, có 3 cửa. Mỗi cửa lại có thể nhả ra 3 thứ khác nhau với số lượng vô hạn: tiền vàng, bột mì và muối.Đây là 3 thứ quan trọng nhất đối với con người lúc bấy giờ, chính vì thế có một cái “máy” có thể sản xuất ra chúng vô hạn thì đúng là báu vật quý giá nhất trên đời rồi (nếu bạn thắc mắc không biết muối quan trọng như thế nào thời đó, hãy tìm đọc lại câu chuyện cổ tích Hoàng tử muối).

Tóm tắt đoạn cuối của Kalevala:

Sau khi tạo ra Sampo, Louhi ngay lập tức cất báu vật vào kho của mụ. Thế nhưng cô con gái của Louhi lại trở mặt không chấp nhận cưới Ilmarinen vì “không muốn xa quê hương, xa mẹ hiền yêu dấu”. Chàng Ilmarinen trở về quê nhà trong thất vọng và đau buồn.
Chẳng mấy chốc sau đó, Vainamoien cùng Ilmarinen quay trở lại để đòi vợ. Con gái của Louhi buộc phải chọn 1 trong 2 người làm chồng, vậy là nàng ta chấp nhận cưới Ilmarinen – người đã tạo ra được Sampo. Đáng buồn thay nàng sau đó chết bởi một lời nguyền, Ilmarinen không chịu được cảnh “mồ côi vợ” nên tạo ra một cô vợ bằng vàng và bạc, nhưng cũng không làm chàng ta hạnh phúc. Cuối cùng, Vainamoien, Ilmarinen rủ nhau thành lập một đoàn người, quay trở lại Pohjona để cướp Sampo. Vainamoien tạo ra một cây đàn 10 dây (chính là đàn Kantele – nhạc cụ truyền thống của người Phần Lan) , dùng tiếng đàn ru ngủ mọi người và đánh cắp Sampo thành công. Đoàn người giong thuyền ra khơi nhanh chóng nhưng mụ phù thủy Louhi đã kịp đuổi theo. Mụ biến thành một sinh vật nửa sư tử nửa đại bàng (Griffin?), tấn công con thuyền. Trong cuộc giao tranh, Sampo bị vỡ tan tành, Louhi chỉ giành lại được 1 mẩu nhỏ của báu vật. Một phần nhả ra tiền vàng do Vainamoien giành được, ông đem về quê hương Kalevala và vùng đất này trở nên giàu có. Phần duy nhất còn nguyên vẹn của Sampo là lỗ tạo ra muối, đã bị rơi xuống biển, cũng kể từ đó mà nước biển mới mặn như thế. Đến đây cũng kết thúc câu chuyện rối rắm, dài dằng dặc về báu vật Sampo của người Phần Lan.

BÌNH LUẬN CỦA BẠN

avatar