Satan (Tiếng Do Thái: שָּׂטָן‎ có nghĩa là “kẻ thù”; tiếng Ả Rập là shaitan, có nghĩa “kẻ lầm lạc”, “quỷ dữ”) là một hình tượng bắt nguồn từ các tôn giáo Abraham, vốn luôn cho rằng sự độc ác, cám dỗ đã dẫn đến sự lầm lạc, sa ngã của nhân loại. Hình tượng “Quỷ Satan” xuất hiện lần đầu trong bộ quy điển kinh thánh Do Thái Tanakh là một kẻ bị buộc tội chống đối, nổi loạn.

Hắn là một trong những “đứa con trai của Chúa” và thấp hơn Chúa, kẻ đã được gọi là “Con quỷ dối trá” bởi các nhà tiên tri của vua Ahab, thảm sát hơn 170.000 người để trừng phạt việc vua David thực hiện cuộc điều tra dân số Israel, thử thách lòng trung thành của Job với Chúa bằng cách bắt ông phải chịu đựng, xuất hiện trong một ảo ảnh của Zechariah như là kẻ chống lại Vương quốc Judah. Trong suốt thời kỳ Thứ Kinh (khoảng thời gian giữa thời kinh thánh Do Thái chiếm chủ yếu với Tân ước cơ đốc chiếm chủ yếu của nhà thờ Catholic và nhà thờ Cơ đốc giáo Orthdox), do ảnh hưởng từ vị thần Angra Mainyu trong Hỏa giáo mà Satan được coi là một thực thể độc ác, ghê tởm, xấu xa trong thuyết nhị nguyên liên quan tới Chúa.

Trong ngụy thư Cuốn sách của Jubilees, Yahweh (Chúa) coi sức mạnh của Satan chính là những thiên thần sa ngã đang cố dụ dỗ con người sa vào tội lỗi và trừng phạt họ. Trong các sách Phúc âm Nhất lãm, Satan dụ dỗ chúa Jesus trên một sa mạc và được coi là nguồn gốc của bệnh dịch, cám dỗ. Satan được miêu tả trong Tân Ước là “kẻ lãnh đạo của ma quỷ”; trong sách Khải huyền, Satan xuất hiện dưới lốt một con rồng đỏ vĩ đại và bị Tổng lãnh Thiên thần Michael và đuổi xuống khỏi thiên đàng. Hắn ta sau đó bị trói buộc phải ở dưới địa ngục suốt một ngàn năm, nhưng không lâu sau đó được thả tự do trước khi bị tiêu diệt hoàn toàn và đày xuống Hồ Lửa. Trong Cơ đốc giáo, Satan còn được biết đến là hung thần (từ nay, Devil sẽ được dịch là hung thần để phân biệt với ma quỷ bình thường nhé) và dù sách Sáng thế không nhắc tới hắn, hắn vẫn thường được biết đến là con rắn độc trong vườn địa đàng.

Vẻ ngoài của Satan không được miêu tả trong Kinh thánh, nhưng từ thế kỷ thứ chín, hắn thường xuất hiện trong những tác phẩm hội họa Cơ đốc giáo với sừng, móng chẻ, chân lông lá, có đuôi, thường khỏa thân và cầm một cây đinh ba – một hình tượng hỗn tạp được lấy cảm hứng từ nhiều vị thần ngoại đạo như Pan, Poseidon và Bes. Trong thời trung cổ, Satan đóng vai trò không quan trọng lắm trong thần học Cơ đốc giáo, thường đóng vai thứ gây hài trong các vở kịch huyền bí của thời đại này. Trong thời kỳ cận đại, tầm quan trọng của Satan ngày càng tăng cũng như những niềm tin của con người về việc quỷ ám và tà thuật phù thủy trở nên phổ biến. Suốt thời kỳ khai sáng, niềm tin về sự tồn tại của Satan bị chỉ trích gay gắt, tuy nhiên vẫn còn tồn tại dai dẳng tới ngày nay, nhất là ở Mỹ.

Tronh kinh Quran (Đạo Hồi), Shaitan hay Iblis là một thực thể được tạo bằng lửa, bị đày xuống thiên đàng vì từ chối cúi mình trước Adam (con người) , cám dỗ con người phạm tội lỗi bằng cách đầu độc tâm trí họ với “tà tâm”. Cơ Đốc giáo và Đạo Hồi đều dạy rằng Satan từng là một thiên thần, mang trong mình sự thông thái và vẻ đẹp nhưng sa ngã vì sự kiêu ngạo, cám dỗ con người vào con đường sai trái và tội lỗi, có sức mạnh rất lớn đối với thế giới của những kẻ sa ngã. Dù Satan luôn được coi là cội nguồn sự độc ác, một người lại có quan điểm ngược lại. Chủ nghĩa hữu thần tôn thờ Satan cho rằng Satan là một vị thần có thể được tôn sùng và kính trọng. Còn với tôn giáo thờ Satan của LaVeyan thì Satan là một hình ảnh tượng trưng cho đạo đức, tự do. Satan từng xuất hiện rất nhiều trong văn học Cơ Đốc giáo, nổi bật là Hỏa Ngục của Dante Alighieri, Thiên đường đã mất và Thiên đường trở lại của John Milton, những bài thơ của William Blake. Satan cũng xuất hiện nhiều lần trên phim ảnh, tivi và âm nhạc.

1. Sự phát triển xuyên suốt lịch sử.
1.1. Kinh thánh Do Thái:
Thuật ngữ ban đầu của Satan trong tiếng Do Thái có nghĩa “kẻ bị buộc tội” hoặc “kẻ thù”, được sử dụng trong suốt để ám chỉ tới kẻ thù của nhân loại cũng như một thực thể siêu nhiên cụ thể. Thuật ngữ ở dưới dạng động từ có nghĩa “gây trở ngại”, “đối đầu”. Khi nó không được sử dụng với mạo từ hạn định, thuật ngữ này còn có thể chỉ bất kỳ kẻ bị buộc tội nào, nhưng khi được sử dụng với mạo từ hạn định thì nó thường chỉ để dùng chỉ kẻ bị thiên đàng đày đọa: Satan.
Thuật ngữ Satan với mạo từ hạn định (Ha-Satan) được nhắc tới mười ba lần trong văn bản Masoretic, trong hai cuốn sách của kinh thánh Do Thái là Job và Zechariah. Satan không đi cùng mạo từ hạn định được sử dụng mười lần, được dịch thành diablos trong Bản bảy mươi và “Satan” trong Kinh thánh phiên bản vua James.

Từ “satan” không xuất hiện trong Sách sáng thế, chỉ nhắc tới một con rắn biết nói và không định nghĩa rõ con rắn đó là thực thể nào. Trong Samuel, Chúa gửi tới “Thiên thần của Chúa” (những thiên thần hủy diệt) để lan truyền một bệnh dịch cho người Israel trong ba ngày, giết chết hơn một trăm bảy mươi ngàn người như là sự trừng phạt vì vua David đã làm một cuộc điều tra dân số mà không có sự đồng thuận của Chúa. Sử Ký 1 đã nhắc lại câu chuyện này nhưng thay thế “Thiên thần của Chúa” bằng một thực thể là Satan.

Có một số đoạn trích có nhắc tới Satan dù không sử dụng cái tên này. Ví dụ như trong sách ngôn sứ Samuel 2:12 đã miêu tả về “con trai của Belial” và sau đó sử dụng cái tên này như một từ đồng nghĩa với “Satan”. Trong King 22:19-25, nhà tiên tri Micaiah miêu tả với vua Ahab một tiên đoán, rằng Chúa đang ngồi trên ngai vàng của ngài và xung quanh là những thiên thần của thiên đàng. Chúa hỏi các thiên thần ai trong số họ sẽ khiến vua Ahab lạc lối, và một thiên thần vô danh tiên phong, nói rằng: “Ta sẽ ra ngoài đó và khiến tất cả những nhà tiên tri của Ahab thành kẻ dối trá.”

1.2. Cuốn sách của Job:
Sách Job là tác phẩm kinh thánh mang tính thơ văn với những đoạn đối thoại văn xuôi trong khung, được viết trước, trong hoặc sau khi Babylon xâm chiếm Israel. Nhân vật chính cuốn sách đề cập tới là Job, một người đàn ông có đạo đức và được Chúa yêu mến. Trong Job 1:6-8 miêu tả “những đứa con trai của Chúa” đứng trước Chúa. Chúa hỏi một trong số họ, một kẻ được ám chỉ là Satan (dù trong trường hợp này, “satan” là một từ miêu tả chứ không phải tên), hắn đã ở đâu, và Satan đáp lại hắn đang đi tuần dưới trái đất. Chúa hỏi, “Ngươi có băn khoăn gì về kẻ phụng sự ta, Job, không?”. Satan trả lời bằng cách thuyết phục Chúa để hắn tra tấn Job, cho rằng Job sẽ từ bỏ niềm tin của ông ngay từ lần hành hạ đầu tiên. Chúa đã đồng ý, Satan tiêu diệt những người phục vụ và tín đồ của Job, nhưng Job từ chối từ bỏ hy vọng với Chúa. Satan lại một lần nữa đứng trước Chúa cùng với một thiên thần khác. Chúa nói rằng Job vẫn giữ vững niềm tin của ông, vậy nên Satan đã thuyết phục Chúa cần phải thử thách nhiều hơn, Chúa một lần nữa lại giao cho hắn nhiệm vụ thử thách lòng trung thành của Job. Cuối cùng, Job vẫn giữ nguyên sự tin tưởng và đức hạnh của mình, nhấn mạnh sự thất bại đáng xấu hổ của Satan.

1.3. Sách ngôn sứ Zechariah (nằm trong bộ mười hai ngôn sứ nhỏ):
Sách ngôn sứ Zechariah bao gồm một miêu tả về lời tiên tri xuất hiện vào tháng hai năm 519 TCN, trong đó một thiên thần đã cho Zechariah thấy cảnh Thượng tế Joshua ăn mặc rách rưới, tượng trưng cho vương quốc Judah và những tội lỗi của nó, đang dưới sự xét xử của thẩm phán là Chúa và Satan là bên nguyên. Chúa quở trách Satan và ra lệnh đưa cho Joshua quần áo sạch, tượng trưng cho việc Chúa đã tha thứ cho tội lỗi của vương quốc Judah.

1.4. Thời kỳ Đền thờ thứ hai.
Trong suốt thời kỳ Đền thờ thứ hai, khi người Do Thái sống tại vương triều Achaemenid (Vương triều đầu tiên của Ba Tư), nền văn hóa Do Thái bị ảnh hưởng rất nặng từ Hỏa giáo Ba Tư, một tôn giáo của Achaemenids. Khái niệm của người Do Thái về Satan bị ảnh hưởng từ vị thần Angra Mainyu, một vị thần ở Hỏa giáo tượng trưng cho sự độc ác, bóng tối và sự bỏ rơi. Trong Bản bảy mươi, thuật ngữ Do Thái “ha-Satan” là một từ được dịch từ tiếng Hy Lạp diabolos, có nghĩa “kẻ phỉ báng”.

Khái niệm về Satan là kẻ thù của Chúa và là kẻ lãnh đạo những con quỷ có nguồn gốc từ ngụy thư của Do Thái suốt thời kỳ Đền thờ thứ hai. Sách Enoch miêu tả một nhóm 200 thiên thần được biết là các Grigori (xem bài viết về Grigori ở album thiên sứ học), những kẻ có nhiệm vụ canh gác trái đất, nhưng thay vào đó lại rũ bỏ trách nhiệm của mình và quan hệ với phụ nữ loài người. Lãnh đạo của những Grigori là Semjaza và Azazel đã gieo rắc tội lỗi và sự băng hoại khắp nhân loại. Những Grigori cuối cùng bị cô lập trong một cái hang, phải đối mặt với sự phán xét vào ngày tận thế. Sách Jubilees, ra đời khoảng năm 150TCN đã kể lại câu chuyện về những Grigori bị đánh bại, nhưng trong sách Enoch, Mastema – thủ lĩnh của linh hồn đã can thiệp trước khi những Grigori bị phong ấn, đề nghị với Chúa cho hắn giữ một vài Grigori, Chúa đã đồng ý với yêu cầu này và Mastema sử dụng các Grigori này để dụ dỗ con người phạm phải nhiều tội lỗi để hắn có thể trừng phạt họ. Sau đó, Mastema đã xin Chúa thử thách Abraham bằng cách bắt ông phải hy sinh Isaac.

Trong cuốn sách Enoch 2 xuất hiện một Grigori được gọi là Satanael. Đó là một bản ngụy thư không rõ thời điểm ra đời và tác giả, đoạn văn bản miêu tả Satanael là hoàng tử của những Grigori bị đuổi ra khỏi thiên đàng, một kẻ nắm rõ sự khác biệt giữa “đạo đức” và “sự độc ác”. Trong Sách Thông thái, hắn là một thực thể mang tới chết chóc cho trái đất. Cái tên Samael được dùng ám chỉ tới những thiên thần sa ngã, sau này là cái tên phổ biến cho Satan.

SATAN TRONG CƠ ĐỐC GIÁO

1. Những tên khác của Satan:
Từ đồng nghĩa phổ biến nhất trong tiếng Anh cho Satan là “hung thần” (devil) có nguồn gốc từ thuật ngữ tiếng Anh thời trung cổ “devel”. Phúc âm nhất lãm cho rằng Satan chính là Beelzebub, “Chúa tể loài ruồi”. Ngoài ra, cái tên Abaddon cũng được nhắc lại sáu lần trong Cựu Ước, hầu hết ám chỉ tới một vùng đất của bóng tối và người chết được trong kinh thánh Do Thái. Sách Khải huyền cũng miêu tả Abaddon, kẻ có tên Hy Lạp là Apollyon (kẻ hủy diệt), một thiên thần thống lãnh Vực Thẳm. Đôi khi Abaddon được coi là Satan. Lucifer cũng là một cái tên khác của Satan trong Cơ Đốc giáo. Trong kinh thánh Do Thái, tên Lucifer là “heley” (sao mai), liên quan tới một vị thần sa ngã trong thần thoại Canaanite và người ta sử dụng điển tích này để ám chỉ sự sa ngã của Satan khỏi thiên đường.

2. Satan trong Sách Phúc Âm, Công vụ Tông đồ và thư truyền giáo:
Ba cuốn Phúc Âm trong Phúc Âm nhất lãm đã miêu tả về việc Satan cố cám dỗ chúa Jesus khi Ngài ở sa mạc Judaean. Satan chỉ cho Jesus một hòn đá và bảo Ngài biến nó thành bánh mì. Hắn cũng đưa Ngài tới đỉnh của Đền thờ Jerusalem và nói Jesus nhảy xuống dưới để các thiên thần có thể đỡ được Ngài. Satan còn đưa Jesus lên đỉnh một ngọn núi, cho Ngài chiêm ngưỡng vương quốc loài người và hứa sẽ trao nó cho Jesus nếu Ngài cúi đầu trước hắn và tôn thờ hắn. Mỗi lần Jesus đều khiển trách Satan, và sau lần dụ dỗ thứ ba, ngài được các thiên thần bảo hộ. Lời hứa của Satan trong sách Phúc Âm Mathew và Luke về việc giao cho Jesus vương quốc loài người nhấn mạnh rằng tất cả những vương quốc đó đều thuộc về hắn.
Satan đóng vai trò quan trọng trong những dụ ngôn của Jesus, như dụ ngôn người gieo giống, dụ ngôn về con cừu và con dê, dụ ngôn về người đàn ông mạnh. Cụ thể, khi Pharisees buộc tội chúa Jesus đã trừ tà bằng phép thuật của Beelzebub, Jesus đáp lại bằng dụ ngôn “người đàn ông mạnh”, rằng: “Làm sao một người thường có thể vào ngôi nhà của ‘người đàn ông mạnh’ và cướp đi thức ăn của hắn ta, trừ khi người đó đã trói buộc ‘người đàn ông mạnh’ trước?” ‘Người đàn ông mạnh’ ở đây ngụ ý chỉ Satan. Ngoài ra, Phúc âm Nhất lãm cũng cho rằng Satan là nguồn gốc của mọi bệnh tật.

Một bức thư truyền giáo của sứ đồ Paul miêu tả Satan là “kẻ nắm giữ mọi sức mạnh của cái chết”. Trong sách Phúc Âm Luke, Jesus trao cho Satan quyền được thử thách sứ đồ Peter và các tông đồ. Judas Iscariot là kẻ đã phản bội chúa Jesus vì “bị Satan thao túng”, và, trong sách Công vụ Tông đồ, sứ đồ Peter đã miêu tả Satan nhuốm độc trái tim Ananias dẫn tới tội lỗi. Phúc Âm John chỉ sử dụng cái tên Satan ba lần: một lần trong việc buộc tội người Do Thái trở thành những đứa con của hung thần thay vì của Abraham; thứ hai, miêu tả hung thần đã là một kẻ giết người từ thuở ban đầu, một kẻ nói dối và là cha đẻ của sự dối trá. Ngoài ra còn cho rằng Satan chính là nguồn gốc dẫn đến sự phản bội của Judas với Jesus.

Sách Khải huyền coi Satan là một thực thể siêu nhiên là nguồn gốc của mọi tội ác trên thế giới. Trong đó, John, tác giả của Khải huyền, đã ám chỉ tới giáo đường của Satan là Smyrna và ngai vàng của hắn là đền thờ Pergamon. Sách Khải huyền 12:3 miêu tả về một con rồng đỏ vĩ đại với bảy đầu, mười cái sừng, bảy cái mũ miện và một cái đuôi lớn, vốn là hình ảnh được lấy cảm hứng từ bốn con thủy quái trong sách tiên tri Daniel và Leviathan trong Cựu Ước. Con rồng đỏ vĩ đại “đuôi nó quét hết một phần ba những ngôi sao khỏi bầu trời” và đuổi theo “người phụ nữ mặc khải” (Mẹ Thiên Chúa) sau khi bà sinh con. Michael và các thiên thần đánh bại con rồng đỏ, con rồng bị đuổi khỏi thiên đàng và từ trên thiên đàng, các sứ giả lan truyền tin “Kẻ phiến loạn” đã bị đánh bại và đồng nhất Satan trong Khải huyền với con rắn trong Cựu Ước. Cho dù Sáng thế ký chưa bao giờ nhắc tới Satan, Cơ Đốc giáo vẫn thường coi con rắn trên vườn địa đàng là Satan dựa vào sách Khải huyền, mà trong đó. Tuy nhiên, một số quan điểm lại cho rằng “con rắn cổ xưa” ám chỉ Leviathan, Leviathan và Satan là một. Sau khi bị đuổi khỏi thiên đàng, Satan bị trói buộc bởi một sợi xích chắc chắn và đày xuống Vực Thăm, nơi hắn bị giam cầm trong một ngàn năm. Tuy nhiên, hắn được thả dự do sau đó và thu thập một đạo quân để thực hiện cuộc chiến tranh chống lại cái tốt, nhưng bị đánh bại bằng ngọn lửa từ thiên đàng và tống xuống Hồ Lửa.

BÌNH LUẬN CỦA BẠN

avatar