HOA SEN – VIỆT NAM:

Ngày xưa có hai cô bé mồ côi bị bỏ rơi ở cổng đình may mà được người hát xẩm mang về nuôi nấng. Khi hai đứa trẻ lớn lên ông dạy cho chúng múa hát mưu sinh. Càng lớn, cô chị hát càng hay và cô em múa càng đẹp. Trong vùng có tên công tử ngang tàng hống hách làm mưa làm gió có ý đồ muốn nạp hai cô làm thiếp. Một hôm, cha nuôi phải đi xa, ông mua tặng hai đứa con gái hai đôi hài. Cô chị chọn đôi màu trắng chỉ vàng, cô em chọn đôi màu hồng chỉ vàng.

Ở nhà, vào lúc nửa đêm tên công tử cho người bắt cóc cô chị về, cô em chạy theo cứu chị. Trong lúc tẩu thoát bị dồn vào đường cùng, hai chị em gieo mình xuống hồ tự vẫn để giữ tròn trinh tiết. Người cha về tìm không thấy hai con, được người trong làng kể sự tình ông tìm thấy chiếc hồ kia. Khắp mặt hồ là những bông hoa màu trắng, màu hồng, cánh hoa tựa như dáng chiếc hài, ở giữa có nhụy vàng như sợi chỉ thêu, chiếc lá xòe to như dáng nón quai thao hai chị em thường đội. Người cha đau buồn khóc thương, hai chị em từ mặt hồ bước lên ôm lấy cha: “Cha hãy yên tâm, chúng con định gieo mình tự vẫn nhưng may mắn được chúa tiên ở hồ cứu sống, bà muốn giữ chúng con ở bên cạnh mình nhưng chúng con nói rằng vẫn còn cha già chưa phụng dưỡng, Bà thương tình cho chúng con trở về và giữ lại hai đôi hài để tạo thành những bông hoa kia để cảm giác có chúng con bên cạnh.”

Trung Hoa:
Từ xa xưa, lúc trời đất vừa mới khai thiên lập địa, mặt đất chỉ là một cõi âm u hoang vắng tịch mịch không có sự sống. Ngọc Đế thấy vậy, Ngài mang theo chiếc rương chứa đầy hạt giống của mình mà cưỡi mây đi rải khắp thế gian, những hạt giống ấy chọn được nơi sinh trưởng thích hợp của mình mà biến thành muôn vạn hình tướng, có loại nhỏ bé mỏng manh, cũng có loại cao lớn đồ sộ, có loại mềm dẻo mịn màng, cũng có loại xù xì gai góc. Duy chỉ có một hạt giống nơi đáy rương rơi xuống không tìm được nơi thích hợp cho mình, nó cứ theo gió mà bay đi. Hạt giống tủi thân cứ gửi mình cho gió, đến một ngày nó nghe tiếng gọi của cái đầm mời gọi nó bay vào làm bạn.

Hạt giống bay xuống đầm và chìm vào lớp bùn sâu tăm tối, những loài cây khác cười nhạo nó, cho rằng nó thật ngu ngốc khi chọn cái đầm dơ bẩn. Dần dần, hạt giống chìm vào quên lãng, không còn ai nhớ đến sự tồn tại của nó. Chỉ có chiếc đầm vẫn hằng ngày lắng chìm những khoáng chất của mình vào đáy sâu. Mùa đông lạnh lẽo trôi qua và mùa xuân lại về, tất cả cây cối đều đến thời khắc ra hoa, chỉ có hạt giống kia vẫn im lặng nằm dưới lớp bùn tăm tối. Đến một ngày hè kia, những cây cối phải kinh ngạc vì mặt hồ đã được phủ kín bởi những đài hoa ngũ sắc tỏa hương giữa các phiến lá tròn xanh. Chỉ mình nó tồn tại giữa mùa hè oi bức, quả không kết sau hoa mà chính bát sen là quả và hạt thì lộ ra ngoài ngay trong nhụy hoa, liên hoa trở thành loài hoa xinh đẹp độc nhất.

Một ngày kia, có một tiểu tiên ngồi khóc bên hồ, các thảo mộc đến gần hỏi thăm thì biết đây chính là tiểu tiên phụ trách nhuộm vải để may áo cho Vương Mẫu, không may làm đổ lọ thuốc nhuộm nên phải trốn xuống trần gian lánh tội. Hoa sen nghe vậy thì ngỏ ý bảo tiên nữ hãy lấy đi màu sắc của nó mang về làm thuốc nhuộm. Hoa sen ngũ sắc rực rỡ lung linh nếu mang về làm màu vải thì Vương Mẫu chắc chắn rất hài lòng. Tiên nữ lấy đi màu sắc mang về, hoa sen chỉ còn lại một màu xám ảm đạm. Lại nói về tiểu tiên nữ, nàng cảm thấy xót xa cho hoa sen nên đã tìm Vương Mẫu để nói sự thật, Vương Mẫu bày cho nàng cách trả ơn. Nàng lập tức xuống trần tìm tiểu liên hoa, đến nơi nàng rút kim may đâm vào đầu ngón tay rồi nhỏ lên những đóa sen. Vậy là từ ngày ấy, liên hoa chẳng mang màu sắc rực rỡ như các loài hoa khác nữa mà chỉ là một màu hồng phấn nhẹ nhàng nhưng chính màu hồng tinh khôi ấy toát lên vẻ đẹp cao thượng của nó.

HOA XƯƠNG RỒNG

Khi bắt đầu tạo ra Trái Đất, Thượng Đế đã dùng một nắm đất nhỏ và rót vào đó một giọt nước thần ban sinh khí để tạo ra một chàng trai. Thượng Đế ban cho người đó tài chiến đấu và săn bắn nhưng lại quên ban cho khả năng nuôi dưỡng và trồng trọt. Thế là ông phải cử một tiên nữ là con gái của thần Mưa và thần Gió xuống giúp đỡ chàng trai. Nhưng chẳng ngờ họ lại nảy sinh tình cảm với nhau, thế rồi cứ đắm chìm vào tình yêu mà quên đi nhiệm vụ của mình. Thượng Đế tức giận hóa chàng trai tan ra tành những hạt đất nhỏ li ti, cô gái chỉ biết vùi mình vào những hạt ấy mà khóc than. Mẹ là thần Mưa vì quá buồn con gái mà không trút nước, cha là thần Gió vì giận đứa con không nghe lời mà thổi những luồn gió nóng rát.

Nàng cứ ở đó khóc than đến khi kiệt sức thì trút hơi thở cuối cùng, nàng tan ra và hóa thành một loại cây thân thể gai góc như sự chống cự không muốn bị bắt về trời. Tuy gai góc nhưng loài cây ấy lại rất mỏng manh, khi bị tổn thương sẽ chảy ra thứ nhựa trắng chính là nước mắt ngàn năm của cô gái. Do sự giận dỗi của thần Mưa và thần Gió mà nơi loài cây ấy sinh trưởng chỉ là một vùng sa mạc khô cằn và khắc nghiệt thế nhưng xương rồng vẫn cứ mãi vùi mình vào cát, nàng muốn nằm mãi trong vòng tay người nàng yêu và vẫn cứ nở hoa như một lời hứa cho tình yêu bất diệt.

HOA BỈ NGẠN

Bỉ Ngạn còn có tên khác là Mạn Châu Sa, Mạn Đà La, San Ô Độc, Long Trảo Hoa, Spider Lily, Tử Nhân Hoa, Vong Xuyên Hoa, Hồng Hoa Thạch Toán, U Linh Hoa và Địa Ngục Hoa. Đây là loại cây họ Ngải, thân thảo, hoa mọc thành chùm, lá thon dài mọc lên từ gốc. Mùi hương của hoa này có tác dụng thư giãn, tạo cảm giác thoải mái nhưng trong cây lại có độc tính nên không được dùng trong y học. Kinh điển Phật giáo thường nhắc đến việc Chư Thiên dùng hoa Mạn Đà La cúng dường Đức Phật, nó cũng chính là nguồn ý tưởng cho sự sáng tạo ra hình thức đàn tràng, các loại pháp khí Phật giáo cũng như nghệ thuật hội họa và kiến trúc Mandala.

Truyền thuyết hoa Bỉ Ngạn:
Ở cõi Thiên giới có nàng công chúa Châu Nhi, cô và Hoa tướng quân đem lòng yêu nhau say đắm. Hai người đã định xin Thiên đế ban hôn, ai ngờ đúng lúc ở góc trời có yêu ma quấy nhiễu, chàng phải cầm binh đi chinh chiến. Lúc trở về chàng mới biết Thiên đế đã gả công chúa cho Tiên tôn để kết tình hữu nghị, Hoa vào cung cầu gặp Thiên đế giải bày sự việc nhưng Người hạ lệnh giam chàng vào thiên lao. Châu Nhi trốn vào thăm tình quân và họ cùng bàn tính kế hoạch bỏ trốn. Hoa vốn là dòng Thiên tướng pháp lực cao cường, chẳng mấy chốc đã chạy khỏi thiên đình. Thiên đế biết được sai thiên binh thần tướng đuổi theo bắt lại. Cả hai bị binh mã bao vây, giữa trùng vây thập diện mai phục, tiến thoái lưỡng nan, chàng đành ôm lấy nàng, thi triển bí thuật biến hai người thành một loài hoa. Thiên binh thiên tướng không còn biết cách nào để mang họ về, đành đem tâu với Thiên đế và gọi loại hoa này là Mạn Châu Sa. Thiên đế không chấp nhận để thua, ông muốn Hoa và Châu Nhi phải vĩnh viễn phân ly nên đã ban ra trớ chú: “Mạn Châu Sa Hoa, ngàn năm hoa nở, ngàn năm hoa tàn, lá ngàn năm sinh, lá ngàn năm úa. Hoa và lá dù ở trên một cây vẫn là mãi mãi không gặp nhau.” Vốn dĩ chàng muốn là tán lá mạnh mẽ, mãi ấp ôm yêu thương và bảo vệ cho những cánh hoa mỏng manh kia, nhưng giờ thì chẳng lẽ ngàn năm ly biệt? Không ngờ hàng vạn năm trôi qua, trớ chú ấy cũng dần phai nhạt, đến một ngày thì hoa và lá cùng nhau bung nở. Thiên đế lại biết được, sai thiên binh thiên tướng mang hoa về trời, hoa và lá cùng bung nở nên đã khôi phục pháp lực, Mạn Châu Sa tìm đường trốn nhưng chân trời góc bể chẳng biết trốn đâu, cuối cùng đành tìm nơi đối nghịch với Thiên giới là Địa ngục mà trú thân.

Thiên binh thiên tướng ráo riết đuổi xuống Địa ngục, chúng sinh ở Ma vực chẳng ưa thái độ cao ngạo của họ và lại cảm thông cho mối tình ngàn năm của Mạn Châu Sa nên đã bênh vực, cuối cùng không ngờ xảy ra một trận Thần Ma đại chiến vô cùng khốc liệt. Tướng sĩ hai bên vong mạng vô số, máu của họ chảy vào gốc cây Mạn Châu Sa và được hấp thụ, hoa từ màu trắng tinh khiết cũng biến thành sắc đỏ yêu dị. Đột nhiên từ trong bông hoa phóng ra một luồng huyết quang chấn động khiến cho kinh thiên động địa, quỷ khóc thần sầu, vầng sáng ấy khiến cho binh tướng hai bên thảy đều tan biến. Chính vì sự chấn động này mà Thiên đế, Tiên tôn, Ma vương, Quỷ vương đều tụ họp xem việc gì xảy ra, Thiên đế vẫn đau đáu muốn mang Mạn Châu Sa về giam cầm nhưng tiếc thay máu của muôn ngàn tướng sĩ chảy vào tích thành oán khí ngút trời, Mạn Châu Sa giờ đây đã vượt khỏi tam giới, siêu thoát ngũ hành, không còn tuân theo quy luật sinh diệt nữa. Oán khí ngàn năm của Mạn Châu Sa tích tụ và đưa lối cho những chúng sinh luân hồi chốn âm ty. Vậy là Thiên đế quyết định để Mạn Châu Sa ở lại dưới cõi hoàng tuyền. Từ đó bên bờ Vong Xuyên dưới cầu Nại Hà có loại hoa đỏ rực dẫn đường cho những đôi tình nhân bị chia cắt, cho những kẻ si tình nhiều oán khí quay lại luân hồi sinh tử và thọ hưởng nhân quả được chú định. Về sau nhân gian còn gọi đó là hoa Bỉ Ngạn.

Bỉ Ngạn ở bờ Vong Xuyên:
Khi các chơn hồn đã thọ lãnh nghiệp quả ở Địa ngục, họ sẽ đi qua dòng sông Vong Xuyên. Ở nơi đó, có người sẽ muốn buông bỏ cuộc sống thế tục nhiều đau đớn khổ ải, cũng có người muốn tiếp tục hoàn thành tâm nguyện, khi chúng sinh ở giữa dòng Vong Xuyên sẽ vô cùng bối rối, đau khổ, khi qua khỏi dòng sông quên lãng ấy thì sẽ thấy được an lạc cho nên hai bên bờ gọi là Bỉ Ngạn. Hai bên bờ sông này có hoa Bỉ Ngạn phủ kín, chơn hồn chọn đường nào để bước tiếp cuộc luân hồi thì hoa Bỉ Ngạn sẽ hiện ra màu sắc ấy. Người ta tin rằng Bỉ Ngạn hoa chính là ngọn đuốc soi đường dẫn lối cho các linh hồn chọn đường siêu thoát, đầu thai hoặc tiếp tục vất vưởng ở dương gian.

Anh linh Bỉ Ngạn hoa:
Nếu Bỉ Ngạn hoa sống hơn 10 năm, hấp thụ linh khí thiên địa mà tánh linh dần thức tỉnh trở thành anh linh Bỉ Ngạn Hoa. Nếu bạn đã đọc qua bài viết Tỳ Bà Tử trên Epic thì Bỉ Ngạn Hoa và Tỳ Bà Tử là một nhóm thường đi cùng nhau trong Hỷ Lạc Thiên, chúng thường dùng sắc hoa và âm nhạc của mình để cúng dường Phật, Bồ tát ở khắp nơi. Xung quanh người của Bỉ Ngạn Hoa tỏa ra hương thơm dễ chịu, khiến ai ngửi thấy tâm tình cũng thư giãn thoải mái. Mùi thơm của chúng cũng là thứ vũ khí mê hoặc rất nguy hiểm. Nếu để Bỉ Ngạn Hoa bị tổn thương, chúng sẽ hóa thành La Sát Nữ, lúc này toàn thân tỏa ra sát khí khiến tinh thần của kẻ nào tiếp cận sẽ bị trì trệ mệt mỏi. Những chúng sinh lúc sống thường thấu hiểu, đồng cảm và sống chia sẻ với chúng sinh xung quanh, khi lâm chung sẽ thác sanh thành Bỉ Ngạn Hoa.

QUẢ THƠM VIỆT NAM:

Ở ngôi làng nọ có một bà góa chồng miệng mồm chanh chua, hay soi mói người khác. Vì bà mẹ chẳng tốt lành gì nên cô con gái cũng y hệt, bà đặt tên con là Huyền Nương, dù đã mười lăm tuổi vẫn chỉ ăn no lại chơi đùa, chẳng biết làm gì. Bởi thế trong làng chẳng ai chưa mẹ con nhà này. Một hôm bà mẹ bệnh nặng, bà không nhấc nổi tay chân để làm gì cả, mệt mỏi lắm mới phải nhờ tới đứa con gái lười biếng của mình. Nhưng không ngờ nhờ vả còn mệt hơn tự làm, Huyền Nương ở trong nhà nhưng dường như không biết gì cả, nhờ đến đâu lại hỏi đến đó. “Mẹ ơi cái nồi ở đâu?” “Mẹ ơi cái gáo nước ở đâu?” “Mẹ ơi cái ấm là cái nào?” Bà mẹ cảm thấy không thể chịu nổi đứa con quá vô dụng, bà bực mình quát: “Mẹ chỉ ước gì con có thật nhiều, thật nhiều và thật nhiều mắt để nhìn cho rõ mọi thứ để không phải hỏi mẹ nữa, thật là phiền phức quá!”

Tự dưng dưới bếp có một giọng nói khàn khàn vọng lên trả lời bà: “Mong ước của người mẹ nguyền rủa con sẽ trở thành sự thật”. Người mẹ nghe thấy kinh sợ, bà xuống bếp tìm kiếm thì không thấy Huyền Nương đâu, bà chạy ra vườn tìm con. Bà mẹ ngửi thấy mùi thơm thoang thoảng, bà đi theo và nhìn thấy đôi hài của Huyền Nương bên cạnh một bụi cây đầy gai, giữa cây trổ một loại quả có nhiều mắt bao bọc xung quanh. Người mẹ bật khóc, nước mắt rơi lên quả kia khiến da trái đang xanh ửng thành màu vàng. Người ta gọi đó là trái Huyền Nương về sau còn gọi là trái dứa.

Philippines:
Có một cô gái xinh đẹp nhưng vô cùng lười biếng tên là Pina. Truyện kể rằng, cô gái này sống rất ích kỉ, mỗi khi ai đó mượn đồ, cô đều nói rằng không tìm thấy chúng đâu. Còn nếu như có ai đó yêu cầu cô làm việc nhà, cô sẽ trốn tránh, viện cớ không tìm thấy đồ dọn nhà.

Khi bố, mẹ, chị, em của Pina ốm nặng, cô đã mắng nhiếc, bắt mọi người phải nấu bữa sáng cho cô và tiếp tục làm việc trên cánh đồng. Nếu không, cô sẽ nói họ là những người lười biếng và vô dụng.Khi mẹ nhờ Pina nấu cơm, cô lại tiếp tục trốn tránh và đáp rằng không thể tìm thấy dụng cụ nấu nướng. Bà mẹ than rằng, họa chăng có trăm mắt thì Pina mới có thể tìm thấy đồ vật.Cảm thấy bị xúc phạm, cô liền kéo bao tải gạo – kết quả của những ngày tháng lao động vất vả ở đồng ruộng cha ra ngoài. Nhưng khi vừa ra đến cửa, Pina nhận thấy rằng, mình không thể cử động được nữa.

Pina biến mất và từ đó không ai có thể tìm thấy cô. Bà mẹ sau nhiều tháng đau ốm đã khỏi bệnh. Khi ra vườn, bà tìm thấy một loại quả kì lạ có hàng trăm mắt và nhận ra điều ước của mình đã thành sự thật.

HỒNG ĐẬU SINH NAM QUỐC

Cây đậu đỏ, còn gọi là hồng đậu hay đậu tương tư sinh trưởng ở vùng Lĩnh Nam, lá giống cây hòe, đây không phải là loại đậu đỏ mà ta thường thấy. Đây là loại hồng đậu mà hạt không ăn được, chỉ dùng làm vòng tay, trâm cài, gỗ chắc chắn nên dùng làm khung đàn tỳ bà_cây đàn chất chứa nỗi niềm.

Chuyện kể thời Xuân Thu Chiến Quốc, nước Ngụy và nước Tần giao tranh vô cùng khốc liệt. Nơi bờ cõi của Ngụy Quốc có chàng trai trẻ vừa thành thân cùng nương tử không bao lâu đã lãnh lệnh chinh chiến, cuộc chia tay trong nước mắt, đường đi lành ít dữ nhiều, người vợ nói rằng: “Nếu kiếp này không thể gặp lại, thiếp vẫn là nhất nhất một nguyện chờ chàng. Cho dù là vạn kiếp bất phục, vẫn mãi chờ đợi chàng”. Năm tháng trôi qua, người vợ mòn mỏi trông đợi không thấy chồng về, một ngày trời tuyết rơi giá lạnh, nàng đã đoạn kiếp hồng nhan. Sau khi mai táng, từ mộ của nàng mọc lên một loại cây, tất cả cành của cây đều hướng về phía phu tướng đang chinh chiến. Người ta nói rằng nàng chờ đợi mà đổ lệ hoài phu, cho đến khi cạn cả nước mắt nàng đã khóc ra máu. Chính những giọt huyết lệ kia giờ đây hóa thành hạt hồng đậu, vì vậy mà hồng đậu còn gọi là đậu tương tư.

Hồng đậu sinh Nam Quốc;
Xuân lai phát kỷ chi.
Nguyện quân đa thái hiệt;
Thử vận tối tương tư.

Về sau, người ta khảm đậu đỏ lên những chiếc nhẫn gọi là nhẫn hồng đậu, nó trở thành tín vật định tình của những người yêu nhau. Các cung phi mang thai long chủng sẽ được vua tặng cho nhẫn hồng đậu.

HOA BÁCH HỢP

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, thực vật, hoa, thiên nhiên và ngoài trời

Hoa Bách Hợp hay còn gọi là Lily, huệ tây, loa kèn. Vì nó tượng trưng cho sự sang trọng, hòa hợp và hạnh phúc nên thường được sử dụng cho lễ cưới. Ngày xưa hoàng gia Châu Âu dùng biểu tượng hoa lily để làm huy hiệu để biểu thị quyền lực. Theo truyền thuyết kể lại, những bông hoa bách hợp vốn có màu vàng, khi Đức mẹ đồng trinh Maria hái nó lên thì hoa trở thành màu trắng và từ đó hoa bách hợp trở thành loại hoa truyền thống của lễ Phục Sinh và Truyền Tin trong Cơ Đốc giáo.

Chuyện kể tại ngôi làng nọ, có chàng Jack và nàng Lily, họ yêu nhau bằng cả trái tim. Một hôm Jack phải ra trận chiến đấu, trong giây phút phân kỳ chàng đã rút trái tim ra khỏi lồng ngực trao cho người mình yêu. Chàng bảo Lily rằng đi đánh trận thì không cần đến trái tim, nàng hãy giữ nó giúp chàng. Lily cất giữ trái tim kia vào chiếc hộp bạc và gìn giữ cẩn thận. Ngày nào cô cũng nhìn về hướng Jack đã đi, không ngừng hoài niệm mong người yêu quay về nhưng chàng vẫn bặt vô âm tính. Đã 10 năm trôi qua, Lily vẫn ngóng trông tin tức từ Jack, cha nàng bảo rằng: “Con đừng chờ đợi nữa, có thể Jack nó đã không may tử trận rồi con à, hay là con cũng lấy chồng đi”. Lily một mực không nghe, nàng thề sẽ không lấy bất kỳ ai ngoài Jack. Và lại 10 năm nữa trôi qua, Lily vẫn mòn mỏi chờ đợi anh, em gái nàng nói rằng: “Chị không nên chờ đợi vô ích, em nghĩ có thể anh ấy đã tìm cho mình một tình yêu khác, biết đâu họ đang có một gia đình hạnh phúc trong khi chị đau khổ ở đây”, Lily vẫn không nghe vì trái tim của Jack đang ở chỗ nàng cơ mà, Jack không thể yêu một ai khác, không có trái tim thì làm sao yêu được và nàng lại tiếp tục đợi chờ.

Thực tế, Jack đã quen sống không có trái tim, trên chiến trận anh trở thành kẻ sát nhân máu lạnh, lưỡi gươm có thể vung thẳng vào yết hầu bất cứ kẻ ngu ngốc nào đang ngáng đường. Và khi chiến tranh kết thúc, sở thích giết chóc vẫn còn và anh đã tham gia một băng cướp, chúng túc trực ở con đường đêm lên núi, sẽ cướp tài sản của những kẻ xấu số đi ngang sau đó bịt đầu mối bằng cái ngoáy vào thái dương với con dao nhọn. Một hôm kia, Jack đã dùng sự tàn bạo của mình lật đổ tên đầu sỏ băng cướp và bước lên trở thành thủ lĩnh. Tên thủ lĩnh cũ bị đuổi đi, hắn lang thang và không ngờ đi đến ngôi làng của Lily. Vừa đến nơi, hắn thấy một bà già tiều tụy, khi hắn vừa hỏi rằng: “Bà có biết Jack không?”, bà lão loạng choạng đứng dậy, bàn tay nhăn nheo run run nắm chặt lấy vai hắn như trao tất cả niềm tin: “Xin anh, xin anh hãy nói cho tôi nghe về Jack, tôi đã chờ đợi anh ấy cả đời rồi, mong ước lớn nhất của tôi trước khi chết…chính là gặp lại Jack!” Không nỡ nói ra thân phận tướng cướp của Jack hiện tại, hắn chỉ nói rằng anh ta đã chết trên chiến trường dưới lưỡi giáo của quân thù.

Lily trở về nhà, bà cầm lấy chiếc hộp và bước đi, Lily đi như một kẻ vô hồn trên con đường tìm khát tình yêu, bà bước đi quên cả mệt mỏi và đói khát, bà vẫn bước đi nhưng không có điểm đích. Bất kể người ta nói rằng hãy dừng lại vì bà có thể bị lũ cướp chặn đường thì bà vẫn bước đi và quả nhiên chúng đã cướp chiếc hộp bạc của bà, không nỡ giết một bà già xác xơ như thế, chúng dắt bà về, nộp lại chiếc hộp cho thủ lĩnh và không ngừng cười cợt mụ già lú lẫn với cái hộp chứa trái tim người yêu. Tên thủ lĩnh mở chiếc hộp ra và nó cất lời: “Này Jack, tôi chính là trái tim của anh đây. Nếu còn một chút tử tế với Lily tôi xin anh đừng nói sự thật cho cô ấy, hãy cứ để cô ấy nghĩ anh đã chết….và Jack của ngày xưa cũng chết thật rồi”. Jack bảo bọn tùy tùng trả lại cho Lily chiếc hộp và chỉ cho bà một nấm mồ hoang nào đó rồi bảo đó là mộ phần của Jack. Lily ôm trái tim của mình trong lòng, nàng không nỡ nhìn người yêu nằm đó mà không có trái tim, nàng moi trái tim trong lồng ngực mình ra và chôn xuống nấm mồ, ôm chặt trái tim của Jack. Lily giờ đây không phải là nàng Lily xinh đẹp, cũng không phải bà lão Lily tàn tạ xác xơ, chỉ đơn giản là một người con gái đã hy sinh một đời vì tình yêu.

Từ nơi Lily chôn trái tim của mình, một loài hoa với những cánh hoa trắng muốt, tỏa ra hương thơm ngọt ngào và đó chính là hoa Lily.

HOA NGÔ ĐỒNG

Ngô Đồng là loài cây mọc ở miền Nam Trung Quốc cho tới phía Bắc Việt Nam, gỗ ngô đồng cho tính truyền âm tốt vì vậy những loại nhạc cụ truyền thống phương Đông như đàn tranh, đàn nguyệt hay tỳ bà đều được làm từ loại gỗ này. Đặc biệt, đối với gỗ ngô đồng mối mọt hoàn toàn không thể ăn được, các loài côn trùng bò sát cũng tránh xa không bao giờ chui vào trú ẩn.

Từ xa xưa kể lại, tại vùng quê thanh bình kia có người lão nông có tài cầm nghệ tuyệt đỉnh, mỗi khi ngón tay lướt trên dây đàn thì rung lên hàng loạt biểu cảm hỷ, nộ, ái, ố,… Người nghe không ai là không tán thưởng. Đi đâu ông cũng mang theo đàn bên mình, hy vọng có thể tìm được đệ tử mà chân chính truyền lại ngón đàn ấy. Tuy tài hoa là thế nhưng kiếp người nghệ sĩ thường lắm điều bạc mệnh, cho đến tuổi này ông vẫn không tìm được một ý trung nhân cho đời mình, ngày ngày trôi qua vẫn hoàn cô độc, kề cận chỉ có tri kỷ cầm thinh.

Một ngày kia, ông đi cùng chuyến đò với cha con, người con gái vừa độ xuân thời tuy không phải là tuyệt sắc giai nhân nhưng cốt cách toát lên mấy phần băng thanh ngọc khiết. Người đàn ông quá tuổi tứ tuần nay lại động lòng cảm mến với cô gái đang lúc xuân thời, tuy trong lòng khát cầu mối chân ái với cô nương nhưng xét lại thân phận lão niên lại chẳng dám mơ mộng hão huyền. Và thế là ông lại ôm mối tương tư, gặm nhấm đau sầu tình lụy gửi vào tiếng đàn. Trùng hợp thay, cô gái kia cũng lại là người đam mê âm luật, cô biết danh vị đại thúc kia rất giỏi cầm nghệ nên đã xin cha cho được học đàn. Người cha chiều lòng tiểu nữ đã thỉnh vị đại thúc ấy được cho con mình bái làm cầm sư, ông nào ngờ người ở trong tim nay lại diện kiến, vốn là tình ý lại phải gọi hai tiếng đệ tử, tâm tình đau đớn lại khó xử vạn phần.

Một hôm, người cha kia lại ngỏ ý cho con của người bạn mình đến cầu học cùng ông, ông gật đầu chấp nhận. Vị công tử kia tài năng sâu rộng, chỉ ngày đầu nhập môn đã cất lên tiếng đàn trong sáng thanh thoát khiến người nghe hồn như bay tận Quảng Hàn cung. Vị công tử và cô nương là đồng môn sư huynh muội ngày càng thân thiết, cùng nhau song tấu cầm nghệ tài năng xuất chúng, lúc rảnh rỗi lại cùng nhau hái hoa đối thơ. Vị sư phụ nhìn thấy hai đệ tử tâm đầu ý hợp rất ư mừng rỡ nhưng cũng từng ngày càng thêm u uất cho căn bệnh tương tư của mình. Vốn dĩ là yêu, lại tự ngăn mình không được yêu, lúc này đã đến nước không thể yêu, lại một lòng khát cầu tình yêu, kết cục là quanh quẩn cô độc.

Thời gian thấm thoát qua, đã hai năm cùng đồng hành, chàng trai và cô gái càng cảm mến nhau nhiều hơn, tình ý đã rõ. Chàng trai cầm nghệ xuất chúng, tiếng đàn thanh thúy âm thu phục lòng người, sư phụ không khỏi tự hào. Cô gái trưởng thành nhan sắc lại mấy phần tuyệt mỹ, dù là mộc lan, mẫu đơn hay hải đường khoe nở cũng không thể so sánh. Đúng lúc kinh thành có kỳ dự thi, người thầy đưa hai đệ tử đi ứng thí. Lúc song tấu trước hoàng thượng họ đã khiến cho người cảm phục tài nghệ, vua cho truyền vị sư phụ vào cung ban thưởng nhưng ông đã ra đi và để lại một bức thư. Trước lúc lên đường đi xa, người thầy đã trở về báo tin vui cho cha cô gái biết rồi độc bước lên đường. Đêm hôm đó ông ngồi bên sông uống rượu, trăng soi bóng trường giang, đất trời như hòa làm một, ông cất tiếng đàn bi ai cho kiếp người như kẻ phiêu lưu độc hành, cô độc vẫn hoàn cô độc. Sáng sớm hôm sau, ông đã lặng lẽ ra đi không cho ai biết, ông muốn đi đến một miền xa xăm nào đó, quá chăng là tận hưởng cho hết sự cô đơn của đời người? Cô gái là người nhìn thấy nhưng cô chỉ kịp nhìn bóng thầy khuất sau làn sương khói.

Vài năm sau, lúc này chàng trai và cô gái tình ý đã trọn, họ yêu nhau như đôi uyên ương không thể chia cách. Lúc này lại đó người mang đến bình rượu và cây đàn của vị sư phụ trả về cho họ và báo rằng ông đã giã từ dương gian bên tiếng đàn. Họ lập bàn thờ, cả hai chịu tang thầy, cây đàn và bình rượu được đặt trên bia mộ của ông, chàng trai hằng ngày vẫn chơi khúc đàn ngày ấy sư phụ đã dạy cho mình. Đến một ngày kia từ trong bình rượu mọc ra một mầm cây nhỏ. Mùa đông lạnh lẽo qua đi và xuân lại về, mầm cây ấy đã lớn và chớm nở những nụ hoa nhỏ, những cánh hoa nhỏ bé ôm sát nhau nhưng những giọt máu li ti, có phải chăng là máu đọng trong tim người dành một đời cho tình yêu đơn phương không lời đáp trả? Ấy chính là hoa Ngô Đồng.

HOA VÔ ƯU

Hoa Vô Ưu tượng trưng cho cõi lòng thanh khiết thuần tịnh, nó còn được gọi là hoa Ưu Đàm Bát La, hoa Linh Thoại, hoa Linh Thụy, hoa Linh Ứng, hoa Không Khởi, hoa Udumbara, hoa Ashoka. Có người nói rằng hoa Vô Ưu chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng, nó cũng giống như một kiếp người khi đến vốn vô ưu, lúc đi cũng hoàn vô ưu. Nhiều nhà thực vật học cho rằng đây là một loài cây có tên khoa học là Sacara Asoca, thuộc họ cánh bướm (một vài nguồn khác cho rằng hoa có họ với cây sung). Đến nay, loài hoa Vô Ưu như Đức Phật nói vẫn chưa thể kết luận là có thật hay không.

Hoa ưu đàm mọc giữa chốn hư không, ba ngàn năm mới nở một lần, có màu trắng và không nhiễm chút bụi trần nào. Tương truyền, khi hoàng hậu Maya đi ngang vườn Lâm Tỳ Ni (Lumbini) bà đã chuyển dạ và hạ sinh thái tử Tất Đạt Đa (Siddhartha) dưới gốc cây Vô Ưu Thọ (Ashoka). Khi ấy lúc thái tử chào đời, hoa nở thành từng chùm tỏa hương thơm ngát. Trong Hindu giáo, hoa Vô Ưu tượng trưng cho tình yêu đích thực thường dành dâng cúng cho thần Kama Deva. Trong sử thi Ramayana, thời gian bị lưu đày tại xứ Lanka, nàng Seeta đã bị Ravana giam giữ tại vườn cây Ashoka.

Lại nói, khi nữ đệ tử Liên Hoa Sắc hỏi: ““Thế tôn, Ngài nói tương lai sẽ có Chuyển Luân Thánh Vương hạ thế truyền Pháp, vậy người ở các nơi khác muốn nhận biết thì làm thế nào?”. Phật Thích Ca Mâu Ni nói: “Đến khi có một loại hoa gọi là Ưu Đàm Bà La nở rộ khắp nơi, thì đó chính là điềm báo hiệu Thánh Vương đã tới. Loài hoa này không phải là hoa ở nhân gian, mà là hoa từ thiên thượng mang xuống điềm lành về Chuyển Luân Thánh Vương”.

Mục Kiền Liên nói: “Thế tôn, Ngài có thể mở lòng từ bi cho chúng con được nhìn thấy Bà La hoa này được không?”. Thế Tôn đáp: “Được! Ta sẽ dùng Phật lực để xem có thể mang đến loài hoa này không”. Nói xong, Phật Thích Ca Mâu Ni đưa tay ra, chỉ thấy trong tay xuất hiện một đám hoa màu trắng, li ti như những hạt bụi, thân trong suốt mỏng manh. Về sau Phật Thích Ca Mâu Ni còn nhiều lần giảng về Chuyển Luân Thánh Vương và Ưu Đàm Bà La hoa.

NHÂN SÂM

Nhân Sâm là một loài cây thân thảo thuộc chi Sâm, có củ và rễ được dùng làm thảo dược lâu đời; củ có hình dạng giống con người mà thành tên gọi.

Truyền thuyết về người đầu tiên trồng sâm ở bán đảo Triều Tiên kể về một cậu bé hiếu thảo họ Kang, mồ côi cha, mẹ ốm thập tử nhất sinh. Cậu bèn tới hang Quan Âm trên núi Jin-Ak cầu nguyện thần linh, được vị sơn thần (Sansin) báo mộng rằng: “Ở trên đỉnh núi Quan Âm có một loại cây thân cỏ. Loại cây này có ba quả, mọc trên vách đá của núi. Con hãy nhổ cây lấy rễ và mang về nhà, sắc rễ cây lên rồi mang nước cho mẹ con uống. Điều cầu khẩn của con sẽ thành hiện thực”. Cậu bé nghe lời dặn của thần, trèo lên vách đá cheo leo tìm được loài cây, đem về sắc thuốc cho mẹ uống mỗi ngày. Quả nhiên mẹ cậu khỏi bệnh, còn loài cây nhân sâm được cậu đem trồng, trở thành loài thảo dược lừng danh của xứ Cao Ly.

Nhiều câu chuyện khác thường kể về Nhân Sâm như một loài cây kì diệu có thể hóa thành con người, hay còn gọi là “củ sâm biết đi”. Ngày xưa có đôi vợ chồng tiều phu nghèo khổ, làm không đủ ăn, vậy mà kì lạ thay, đứa con trai của họ vẫn lớn phổng phao, hồng hào bụ bẫm. Được vài năm, đứa bé lớn nhanh như thổi, biết nói biết cười, cha mẹ mới hỏi chuyện sao cơm ăn không đủ no mà con lớn nhanh đến vậy. Cậu bé đáp rằng cậu còn chẳng biết đến mùi cơm, vì mỗi lần cha mẹ để cơm lại có bầy khỉ đến ăn hết sạch. Nhờ có một cậu bé khác thường hay sang chơi, truyền sức khỏe cho nó, mà cậu mới lớn được đến giờ.

Đến sáng hôm sau, người tiều phu đi ra chợ mua một cuộn chỉ tơ mang về dặn dò con là hễ thằng bé kia đến chơi thì lấy chỉ buộc vào chân hoặc tay nó. Qua ngày, hai vợ chồng đi khỏi nhà như lệ thường, song không vào rừng lấy củi mà rình nấp gần đấy. Nhân sâm lại đến túp lều chơi với thằng bé, và đứa bé theo lời cha dặn, lấy chỉ buộc vào cổ tay bạn.

Lúc sau, hai vợ chồng ra khỏi chỗ nấp, đột ngột trở về nhà, bắt gặp cả hai đứa bé đang nô đùa. Thằng bé sâm vội vàng bỏ chạy rồi biến mất vào cây. Người tiều phu lần theo dấu chỉ đã buộc vào cổ tay Nhân Sâm mà tìm ra được cây sâm. Tham và ngốc, gã hấp tấp đào xới quá mạnh tay làm chết mất thằng bé Sâm và chỉ lấy được từng miếng rễ cây sâm. Cũng vì thế mà ngày nay người ta chỉ có được các nhánh rễ sâm tựa hình dáng người. Người Sâm chết vì sự vụng về của gã tiều phu, từ đó Sâm không còn công hiệu giúp cho người ta được trường sinh bất tử nữa, mà uống sâm chỉ được bồi dưỡng sức khỏe thôi.

BÌNH LUẬN CỦA BẠN

avatar