TRUYỀN THUYẾT ĐÀN GUITAR

Đàn Guitar là loại nhạc cụ truyền thống hàng ngàn năm, nó còn được biết đến với cái tên Tây Ban Cầm _ cây đàn đặc trưng cho xứ sở cao bồi. Đàn có cần đàn dài, phím đàn trải dài theo cần đàn, thùng đàn cũng chính là hộp cộng hưởng khuếch đại âm thanh.

Xưa kia, có một người thợ mộc tài hoa nổi danh khắp miền Nam Tây Ban Nha, ông có người con gái xinh đẹp tên là Citra. Nàng có giọng hát mềm mại và trong suốt, chim trên cành khi nghe thấy giọng hát ấy cũng phải dừng ngay tiếng hót. Giọng hát của Citra còn có thể chữa trị bệnh tật, mỗi khi có dịch bệnh người ta vẫn thường đến tìm nàng.

Một đêm mưa bão nghe tiếng gõ cửa giữa khuya, hai cha con mở cửa trông thấy một bà lão toàn thân ướt sũng. Họ mời bà vào nhà giúp bà hong khô quần áo, mang cho bà một ít sữa nóng mật ong. Bà lão giải bày rằng ở quê nhà có người cháu gái bệnh tình thập tử nhất sinh cho nên phải lặng lội đường xa đến tìm Citra. Thương cảm cho bà lão nên sáng hôm sau từ biệt cha già để cùng bà cụ lên đường, lo lắng cho con gái nên người cha đã nhờ vả hai người bạn đi theo bảo vệ.

Đi suốt một quãng đường dài, họ đã đến Asturias và người cháu gái đang đau đớn thoi thóp trên giường bệnh. Citra cất cao giọng hát, nàng hát suốt 3 ngày liền (ôi diva!). Thế rồi cô cháu gái đã tỉnh dậy bình phục. Citra cùng 2 người bạn trở về, trên đường đi họ gặp bão tuyết. Người ta tìm được phát hiện nàng đã lạnh cóng và đông cứng, họ đưa nàng về với cha già. Nàng thoát chết nhưng thanh quản vùi trong băng giá lâu ngày không còn hát được nữa. Từ đó Citra đau đớn, nàng sống trong sự im lặng u uất cùng cực.

Nhìn thấy con gái đau buồn, người cha tìm cách cứu lấy tâm hồn nàng. Nhớ ra những khúc gỗ hồng mộc trong kho, ông mang ra đục đẽo rồi chế tạo gần một năm. Cuối cùng ông tạo ra loại nhạc cụ lạ kì nhưng mang hình dáng xinh đẹp của người con gái. Vài người thợ săn tặng cho ông hai con nai, con lớn ông lấy gân chân làm dây trầm, con tơ lấy làm dây bổng.

Người cha vuốt lên dây đàn, nó rung lên dải âm trong trẻo nhẹ nhàng, Citra nhận cây đàn từ cha và hằng ngày luyện tập. Mỗi khi Citra gảy đàn, chim trên cành cũng im hót mà nghe. Kì diệu thay, tiếng đàn ấy cũng có năng lực chữa lành bệnh tật. Thế là có ai mang bệnh dịch, người ta lại tìm Citra giúp đỡ. Cũng từ đó mà cây đàn Citra lưu truyền khắp nơi, chữ C đọc lệch âm là chữ G từ đó có tên đàn Guitar

TRUYỀN THUYẾT MÃ ĐẦU CẦM

Người Mông Cổ sống trên những thảo nguyên mênh mông, họ là những người dân du mục đời sống rài đây mai đó. Ngoài những túp lều thì lưng ngựa cũng chính là nơi đồng hành cùng họ. Tiếng ngựa hí từ lâu đã đi vào tâm thức người Mông Cổ, nó hòa quyện vào âm nhạc và nghệ thuật. Cũng chính vì vậy mà cây đàn Mã Đầu đã ra đời.

Mã Đầu Cầm là loại nhạc cụ bộ dây vĩ, có hai dây căng chiều dọc, thùng đàn hình thang vuông, cần đàn cao dài không có phím, đầu đàn chạm khắc hình con tuấn mã thần thái phi phàm. Người ta chơi đàn bằng cách kéo vĩ trên hai dây đàn. Âm đàn có sự pha trộn giữa violin và đàn nhị, mang đậm âm sắc tâm hồn người Mông Cổ.

Theo truyền thuyết, có một miếu thờ các vị thần trên trời gọi là Thiên Miếu nằm ở phía Bắc Mông Cổ, người bản xứ tôn thờ gọi là “Bogdokure”. Miếu nằm trên ngọn Cấm Sơn Jasaktu Ui, muốn đến đây phải băng rừng vượt suối bốn mươi ngày đường. Trên những thung lũng xung quanh Thiên Miếu có bầy ngựa cưỡi gió lướt mây đi ăn cỏ, trong đó có bảy con ngựa khỏe mạnh rắn chắc, duy chỉ có một con ốm yếu. Người ta gọi đó là Jonung Khara Mori, có thể tạm dịch là Thiên Lý Mã.

Mỗi ngày, khi mặt trời khuất sau ngọn núi, Nhị Thập Bát Tú từ trên trời cao đáp xuống hạ giới hiện thành 28 tướng lĩnh to cao vạm vỡ, mặc giáp phục kim sắc. Hai mươi vị cưỡi ngựa ngao du, tám người còn lại bay lên đỉnh Cấm Sơn cưỡi tám con ngựa đang ăn cỏ ở đó. Ngày nào cũng vậy, họ cưỡi ngựa ngao du khắp nơi đến hừng đông lại trở về trời trở lại hình dáng 28 vì sao. Một hôm, vị tướng trẻ tuổi nhất_chủ nhân của con Thiên Lý Mã tình cờ đi ngang qua một vùng đồng cỏ, nhìn thấy cô gái trẻ dung mạo hơn người. Chàng ngỏ lời làm quen, họ kết làm bạn rồi dần dần có tình cảm với nhau. Hàng đêm, họ đầu ấp tay gối bên nhau trong chiếc lều ấm áp của nàng nhưng đến sáng, chàng đành trở về Thiên giới bỏ lại nàng phòng không chiếc bóng gặm nhấm cô độc.

Lại nói, trong 28 người thì vị tướng trẻ là người đi rong chơi nhiều nhất và cũng về muộn nhất. Thường thì canh ba họ đã phải cưỡi ngựa trở về thì anh vẫn có thể nấng ná đến canh năm, bởi anh biết mình có con Thiên Lý Mã có thể lướt gió đạp mây đi xa vạn dặm trong chốc lát, nó là con ngựa có tốc độ nhanh hơn cả sấm chớp. Nhiều lần nàng gặng hỏi rằng quê hương, gia đình chàng ở đâu nhưng chàng cố phớt lờ. Một hôm nàng chờ lúc chàng rời đi nàng thúc ngựa đuổi theo nhưng thứ ngựa bình thường làm sao theo kịp Thiên Lý Mã.

Hôm khác, nàng chờ lúc tình quân ngủ say lẻn ra ngoài phát hiện ở mỗi gót chân của Thiên Lý Mã có một cặp cánh nhỏ. Nàng nung dao trong lửa cho sắt rồi cắt đi bốn cặp cánh nghĩ rằng có thể giữ chân chàng ở lại mãi mãi. Đến canh năm, chàng vẫn cưỡi Thiên Lý Mã mà đi nhưng sao hôm nay ngựa chậm chạp đến lạ. Chàng vẫn cố thúc ngựa chạy, ngựa chỉ còn sức tàn lực kiệt, đến một hoang mạc ngựa ngã gục trong khi ánh sáng mặt trời đã soi sáng thế gian. Vậy là chàng sẽ mãi không thể trở lại Thiên giới, ngựa trút hơi thở cuối cùng. Chàng đau đớn ôm xác người bạn trung thành mà khóc thương, lệ chàng rơi vào thân ngựa, ngựa hóa thành cầm. Thân ngựa màu nâu như gỗ thân đàn, đầu ngựa là đầu đàn, hồng mao là dây đàn, đuôi là cung vĩ. Chàng kéo khúc hồng trần ai oán tiếc thương cho một trang tình sử bi ai của đời mình.

TRUYỀN THUYẾT ĐỘC HUYỀN CẦM

Độc Huyền Cầm hay còn gọi là đàn Bầu từ lâu gắn liền với đời sống tinh thần của người Việt, nó trở thành nét đặc trưng cho nền cổ nhạc Việt Nam. Chỉ với một sợi dây thép căng dọc theo đàn, một đầu dây gắn vào cần đàn, trên cần đàn có một trái bầu, người chơi cầm que gảy trong tay mặt khảy vào các vị trí trên dây và điều khiển cần đàn khiến cho phát ra âm thanh trong trẻo. Vì thế mà người ta có câu:

Một dây nũng nịu đủ lời
Nửa bầu chứa cả đất trời âm thanh.

Tích xưa kể rằng, khi giặc ác đang xâm lấn biên cương, triều đình kêu gọi nam nhân trong nước ai đủ dũng lực thì ra trận dẹp giặc. Có chàng Trương Viên tình nguyện đi ra biên ải bảo vệ non sông, trước khi đi chàng có dặn thê tử rằng nếu chẳng may đất nước loạn lạc, tai họa bất ngờ thì phải dẫn mẹ về quê mà lánh. Chẳng lâu sau tình hình chiến sự bất ổn, giặc tràn vào nước, vợ chàng đành thu xếp đưa mẹ già về quê. Trên đường đi trải qua bao nhiêu gian nan nàng vẫn tận tình bảo vệ mẹ, có khi đói khát giữa đàng vẫn nhường cơm phần mẹ.

Có hôm nọ họ đi ngang ngôi làng kia, vừa đến cổng làng đã được dân chúng vui mừng nghênh đón, họ mang thức ăn thịnh soạn ra chiêu đãi hai mẹ con, tiếp đãi rất nồng hậu. Cả hai thắc mắc mới hỏi rằng vì sao lại tiếp đón họ như khách quý, vị trưởng làng mới nói thật rằng trong vùng đất này có một ác thần đang ngự, hằng năm họ phải cúng tế cặp mắt của một người phụ nữ cho hắn thì mới mong thời tiết thuận hòa, sinh sống an ổn. Thế là họ có lệ, hễ năm nào đến ngày cúng ấy mà người nữ nào bước vào làng đầu tiên thì sẽ chiêu đãi linh đình rồi xin cặp mắt, nay bà cụ là người xuất hiện đầu tiên nên đành xin đôi ngươi của bà. Con dâu nghe thấy giật mình liền nức nở cầu xin cả làng tha cho mẹ già, nguyện thay thế bằng mắt của chính mình. Làng nghe thế liền chọn cô gái trẻ để thay, sau khi bị móc mắt nàng trở nên mù lòa nên lo âu, không biết làm sao đưa mẹ về quê bình an.

Lúc này Thánh mẫu từ trên trời thị hiện, Người ban cho cô cây đàn có một dây, một dây này tượng trưng cho sự hiếu thảo một lòng của nàng. Thánh căn dặn: “Đàn này có thể giúp con nuôi nấng thân này cùng mẹ già trong lúc hoạn nạn, cứ chờ đợi ngày đoàn tụ!” Nàng lạy tạ Thánh, từ đó ở lại ngôi làng kia, hằng ngày lấy nghiệp đàn hát làm kế sinh nhai.

Lại nói, sau khi giặc dữ lui quân, Trương Viên tìm về nhà không thấy vợ và mẹ đâu, biết rằng nương tử đã dẫn mẹ già về quê nên chàng lên đường đi tìm. Trên đường chàng đi ngang ngôi làng năm đó, hỏi thăm thì người dân kể cho câu chuyện về nàng dâu hiếu thảo nhưng cũng chẳng biết bây giờ họ ở đâu. Trương Viên buồn bã lang thang khắp nơi quang làng, tình cờ trong lúc đi ngang khu chợ đông người có nghe tiếng dây cung trầm bổng cất lên từ đám người chật kín. Hiếu kì đến xem thì thấy vợ đàn hát có mẹ ngồi bên, trước mặt là chiếc nón xin tiền bá tánh. Gặp lại phu quân nàng rất mừng nhưng lại nghĩ đến chiến tranh đã chia cắt gia đình khiến lâu nay lưu lạc, thân nàng là nữ nhi lại chịu nhiều đau đớn nên cứ tủi thân mà khóc, khóc mãi, máu từ khóe mắt cũng chảy ra nhỏ lên đàn. Không ngờ lúc đó Thánh mẫu từ trời cao nhìn xuống, cảm động tấm chân tình của cô gái nên hóa phép cho nàng trở lại sáng mắt như xưa. Từ đó đàn Độc Huyền lưu truyền khắp nơi, tiếng đàn trầm bổng nỉ non cũng giống như lòng người con gái chịu nhiều đau khổ.

TRUYỀN THUYẾT TỲ BÀ CẦM

Nếu bạn thường xuyên luyện phim bộ Trung Quốc, chắn chắn sẽ thường nghe thấy âm thanh réo rắc được lồng vào các cảnh phim. Đó chính là tiếng đàn Tỳ Bà_loại đàn gắn liền với đời sống nghệ thuật và tâm linh của người Trung Hoa. Đàn có hình quả lê bổ đôi, một mặt trước phẳng để mộc, đầu đàn uốn lượn cong ngược như hình một dấu chấm hỏi, gắn với đầu đàn là bốn trục đàn căng dài bốn dây kéo đến cuối mặt đàn, phím đàn trải dài trên thân từ thấp tới cao.

Đàn Tỳ Bà được quan niệm là do các thần tiên trên trời chế tạo ra để giáo hóa con người. Ở một vài ngôi chùa, người ta tạc phù điêu các tiên nữ chơi đàn Tỳ Bà cúng dường cho Phật, vị Trì Quốc Thiên Vương (một trong Tứ Đại Thiên Vương hộ trì phật pháp) cũng cầm đàn Tỳ Bà, ông dùng tiếng đàn cảm hóa chúng sinh.

Đàn Tỳ Bà được cho là có từ thời Trung Hoa cổ đại, đã có hơn 2000 năm lịch sử. Đàn có chiều dài 35 thốn (35 inch), số 3 tượng trưng cho 3 yếu tố: thiên, địa, nhân còn số 5 tượng trưng cho 5 nguyên tố: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Bốn trục đàn tượng trưng cho Tứ Thiên Vương, bốn trục điều khiển 4 dây tượng trưng cho: xuân, hạ, thu, đông_nó thể hiện niềm tin của người Trung Hoa về chức năng của thần linh trong cai quản thời tiết.

Tương truyền, sau khi tạo ra con người Nữ Oa và Phục Hy đã nhìn thấy bản tính sân si, tàn độc tồn tại bên trong họ, kèm theo đó là bản năng dục tính khó lường. Vậy là họ đã tạo ra hai cây đàn, Nữ Oa điều khiển đàn Sắt, Phục Hy điều khiển đàn Cầm, tiếng đàn khiến lòng người thanh thản, thăng hoa, quên đi những sân si, dâm dục. Có thuyết nói rằng Phục Hy dùng ngọc thạch làm thân đàn, tơ trời làm dây đàn. Có thuyết lại nói ông nhìn thấy chim phượng hoàng đậu trên cây ngô đồng, biết là điềm lành đã đến nên chẻ cây làm đàn (thời nay đàn Tỳ Bà cũng làm từ gỗ ngô đồng). Người ta cho rằng vào thời Tần khi đang xây dựng Vạn Lý Trường Thành, có những người cưỡi ngựa đi dọc theo bờ tường xây dựng để khảo sát. Tường thì dài ngút ngàn mà cứ cưỡi ngựa đi dọc theo thì quá buồn chán vậy nên họ biến tấu đàn Cầm thành loại đàn nhỏ gọn hơn, có thể cầm để chơi trên lưng ngựa, đàn dùng kĩ thuật chính là ngón trỏ búng ra gọi là Pi (Tỳ) và ngón cái búng vào gọi là Pa (Bà).

Một số nguồn gốc do ảnh hưởng của Bảng Phong Thần nên cho rằng xưa kia có một Tán Viên lực ngoại dùng ngọc thạch từng chôn hàng trăm năm dưới lòng đất lên mà luyện nhạc khí, không tờ tạo thành thứ nhạc khí thất bại nên vứt bỏ. Lúc này có Kiều Nữ đi ngang nhặt được, cô mang về tu sửa lại thành nhạc cụ hoàn chỉnh đặt tên Tỳ Bà, đàn có âm thanh xuyên thấu cực cao, tiếng đàn cao và thấp, nhanh và chậm, mềm mại và đanh thép. Có vài vị tiên trên trời nhìn thấy thì phản chế lại rồi hóa thân xuống nhân gian mà lưu truyền, từ đó trong nhân gian có đàn Tỳ Bà. Riêng Ngọc Thạch Tỳ Bà kia thời gian dài khí ngọc tích tụ nên biến thành yêu tinh nhưng bụng dạ hiền lành, chỉ đi theo phò ân nhân. Ngờ đâu sau đó Kiều Nữ vì thất tình mà vong mạng, Ngọc Thạch Tỳ Bà nhập hội cùng Cửu Vĩ Hồ Ly và Cửu Đầu Trĩ Kê, chúng kết thành bộ ba nhận lệnh Nữ Oa Nương Nương phá đổ nhà Trụ.

Ở Trung Hoa, đàn được gọi là Pipa, nó truyền sang Nhật gọi là Biwa, Hàn gọi là Bipa, Việt Nam gọi là Tỳ Bà. Mỗi quốc gia lại biến tấu đàn theo những hình thức khác nhau. Nguyên đàn Pipa thì trên đầu đàn có gắn miếng ngọc hoặc khắc hình chữ Thọ. Sang đến Việt Nam thì người ta thay vào nó và hình con dơi trút đầu xuống đất, miệng nhả ra ba làn sóng. Lý giải hình tượng này, người ta nói rằng xưa kia có người nhạc công đang ngồi bên sông gảy khúc Tỳ Bà. Con dơi vốn là loài vật sống trong bóng tối, ngủ thì lộn đầu xuống đất y như hạng tiểu nhân vậy. Lúc đó có con dơi bay đến treo mình trên đầu đàn, nhạc công đuổi ba lần mà nó cứ quay lai đậu lên nên mặc kệ. Từ đó đêm nào dơi cũng đến treo mình trên đàn mà nghe tiếng nhạc bên tai, đến một ngày thọ mạng đã tận nó vẫn gắng sức bay đến nghe đàn lần cuối rồi chết khô trên đầu đàn. Người nhạc công vừa cảm động tấm lòng của loài cầm thú nhưng cao quý hơn người lại tự hào vì tiếng đàn có thể cảm hóa loài vật bị coi là xấu xa. Việc này cũng mang ý nghĩa tiếng đàn có thể giúp người đang ở trong bóng tối bước ra ánh sáng, có thể thuần phục cái xấu quay về chính đạo.

Tuy vậy, Tỳ Bà Cầm thường gắn với số phận những người tài hoa bạc mệnh. Tựa như Vương Chiêu Quân_một trong tứ đại mỹ nhân Trung Hoa bị cống tế cho xứ man di Hung Nô, trên lưng ngựa nàng cầm Tỳ Bà gảy Tái Thượng Khúc rồi chôn chặt thanh xuân trong cô quạnh. Nàng Thúy Kiều cũng tương tự, tiếng đàn thê lương gắn liền với 15 năm lưu lạc:

“Bốn dây như khóc như than […]
Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay”

TRUYỀN THUYẾT TRỐNG ĐỒNG

Trống Đồng là loại nhạc cụ truyền thống của người Việt có từ thời cổ đại. Trống Đồng được tìm thấy khắp nơi ở Đông Nam Á và miền Nam Trung Quốc nhưng chỉ có vùng Đông Sơn_Thanh Hóa là nơi tìm được nhiều Trống Đồng nhất, lâu đời nhất và sử dụng kĩ thuật đúc điêu luyện nhất nên các nhà khảo cổ tin rằng đây là nơi sản sinh ra Trống Đồng.

Trống Đồng không chỉ là một loại nhạc cụ mà còn là biểu tượng cho quyền lực giai cấp, tôn giáo,… Người Việt Nam xem Trống Đồng là thứ vật linh thiêng do họ quan niệm rằng chính vị thần từng hiển linh qua nhiều triều đại vua Hùng cho đến tận các triều Lý, Trần để giúp vua giữ nước_thần Đồng Cổ đã phát minh ra Trống Đồng.

Hiện nay các truyền thuyết về Trống Đồng có đến 14 phiên bản khác nhau. Tuy nhiên theo ghi chép trong sử thi của người Mường thì kể lại như sau: “Ngày xửa ngày xưa, Vua Dịt Dàng vì ở Kinh đô, nơi ngài có một cung điện lớn và nhiều cung nhỏ. Ngài có nhiều quân, bởi ngài có nhiều quyền thế. Ngài cho gọi thợ đến cưa cây đẽo gỗ dựng kho chứa thóc, gạo, trầu, cau, vàng, bạc, đồng, cất kiệu, lọng, làm chuồng trâu, bò, voi ngựa, dựng trại cho quân tướng hùng hậu của ngài.

Nàng Ngà và nàng Ngân, hai em gái của ngài, một hôm ra suối gội đầu, khi chải đầu nhìn về phía Đông, bỗng thấy một chiếc trống đồng trên mặt biển và dạt vào bờ cát.

Vua Dịt Dàng sai người vớt chiếc trống đồng lên mang tới chỗ mình rồi lệnh cho gọi thợ khéo bốn phương đến đúc 1960 chiếc trống, ban phát cho các nhà Lang, mỗi nhà một chiếc.”

Theo một số nghiên cứu cho rằng vua Dịt Dàng ở đây chính là An Dương Vương. Các họa tiết trên mặt Trống Đồng toàn bộ đều thể hiện nguồn gốc tâm linh của người Việt thông qua hình ảnh các vật tổ. Tâm trống luôn luôn là hình mặt trời, dù là trống của vùng nào hay thời đại nào cũng thế. Điều này thể hiện cho tín ngưỡng “Ông Trời” của người Việt. Chim cũng là một vật tổ thường xuất hiện trên mặt trống, nó gợi nhắc về truyền thuyết của cuộc hôn nhân của Bố Rồng và Mẹ Âu_sự kết đôi giữa hai bộ tộc Rồng thần và Chim thần. Hình ảnh loài chim chân cao, mỏ dài, cổ vắn xuất hiện trên hầu hết các họa tiết cổ này được gọi là chim Lạc_đến ngày nay người ta vẫn còn tranh cãi về nguồn gốc của loài chim này. Nhìn chung, loài chim gắn liền với văn hóa nông nghiệp của buổi đầu dựng nước vì vậy hình ảnh của chim thể hiện sự gần gũi, đồng hành. Bên cạnh đó vật tổ Rồng được phát triển dựa trên giao long (cá sấu), rắn biển,… lại thể hiện sự kinh sợ của con người với thiên nhiên. Có lẽ cũng vì vậy mà người ta đưa hình ảnh chim ví như mẹ Âu Cơ hiền dịu và cha Rồng Lạc Long Quân oai phong, hùng mạnh. Nhiều vật tổ khác như hươu, cóc về sau cũng được phát triển trở thành các sự tích dân gian.

TRUYỀN THUYẾT ĐÀN TRANH

Đàn Tranh còn được gọi là Đàn Thập Lục, là nhạc cụ truyền thống của người phương Đông, có xuất xứ từ Trung Hoa. Đàn thuộc họ dây, chi gảy. Đàn có tên gọi Thập Lục vì có 16 dây.

Đàn Tranh hình hộp dài. Khung đàn hình thang có chiều dài 110–120 cm. Đầu lớn rộng khoảng 25–30 cm là đầu có lỗ và con chắn để mắc dây. Đầu nhỏ rộmg khoảng 15–20 cm gắn 16 khoá lên dây chéo qua mặt đàn. Mặt đàn làm bằng ván gỗ ngô đồng dày khoảng 0,05 cm uốn hình vòm. Ngựa đàn (còn gọi là Con nhạn) nằm ở khoảng giữa để gác dây và có thể di chuyển để điều chỉnh âm thanh. Hình dáng cây đàn lạ mắt mà nên thơ:

“Mặt đàn như nước sông đầy
Cho cầu nổi sóng, cho bầy nhạn sa…”

Về nguồn gốc của đàn Tranh, người ta cho rằng ngày xưa Phục Hy đã tạo ra cây đàn Sắt có 50 dây, nó đi thành một đôi với đàn Cầm. Cầm là giống trống, Sắt là giống mái, vì vậy mới có câu “duyên Sắt Cầm đừng lợt phai”. Về sau đến thời vua Huỳnh Đế thấy có nhiều dây quá nên giảm lại còn 25 dây.

Lý giải về cái tên đàn Tranh, có tích kể rằng xưa kia có một viên ngoại giàu có đã đặt người làm một cây đàn Sắt để trong phủ. Nhà có hai cô con gái đều biết âm luật, một hôm nọ trùng hợp cả hai người đều cao hứng muốn đàn mà lại không ai chịu nhường ai đàn trước. Cả hai tranh cãi nảy lửa, cha thấy vậy tức giận bổ dọc cây đàn thành hai mảnh, một bên 13 dây, bên còn lại 12 dây để mỗi người giữ một khúc. Cũng vì vậy mà cây đàn không nguyên vẹn, chẳng đánh nhạc được nữa. Hành động giành giật cây đàn của hai chị em trong tiếng Hán gọi là “zheng” qua tiếng Việt là Tranh. Chữ Tranh ở đây mang sắc nghĩa tranh giành.

Sự tích đàn Koto :

Theo truyền thuyết kể rằng vào thế kỷ thứ 7 ở Phù Tang có một người nữ thuộc dòng quý tộc tên là Ishikawa Iroko, trong một lần đi ngao du ở miền quê cô vô tình đi ngang một hang động và nghe được âm thanh thánh thoát vang lên. Trong hang là một đạo sĩ Trung Hoa đang gảy đàn cổ tranh, cô đem lòng cảm mến ngay lập tức xin thọ giáo. Iroko trở về thuật lại cho mọi người nghe nhưng không ai tin, lúc dẫn tất cả lên núi xem thì chỉ thấy một vầng mây trắng bay ra rồi lơ lửng trên đỉnh núi. Cô trở về mở lớp dạy đàn tranh và thành lập môn phái Kyushu. Về sau đàn được nhà sư Kenjun cải tiến và sáng tác cho những nhạc khúc riêng, người Nhật gọi là đàn Koto.

Sự tích đàn Geomungo :

Thuở xưa ở nước Cao Ly (Đại Hàn và Triều Tiên ngày nay) dưới vương triều Goguryeo có một cây đàn tranh được tiến cống sang từ Trung Quốc. Thế nhưng người Guguryeo không biết đây là loại nhạc khí gì và cách sử dụng ra sao. Bấy giờ tể tướng hiền đức Wang San Ak đã chỉnh sửa lại cây đàn và nghĩ ra cách tấu riêng cho nó. Lần đầu ngài chơi đàn đã có một con hạc đen bay xuống nhảy múa ngay trước mặt, trong tâm thức người phương Đông thì hạc là loài vật xuất hiện ở những nơi thái bình, thịnh vượng. Từ đó người ta truyền tai nhau rằng Wang San Ak chính là thần linh xuống trần gửi một điềm báo tốt lành cho triều đại Goguryeo. Ngày nay Hàn Quốc có hai loại đàn tranh là Geomungo và Gayaguem.

TRUYỀN THUYẾT TRỐNG CƠM

Trống cơm là nhạc cụ gõ, họ màng rung, chi vỗ của người Việt. Do trước khi đánh người ra lấy cơm nếp xoa vào hai mặt trống để định âm nên gọi là Trống Cơm. Theo An Nam Chí Lược thì trống cơm là nhạc cụ vốn của Chiêm Thành, khi dùng thì lấy cơm nghiền ra bôi vào tiếng sẽ trong mà rõ.

Mặt trống là hai hình tròn bằng nhau đường kính khoảng 15 cm, đường viền được làm bằng sợi mây. Tang trống tròn dài, hai đầu chụm lại, đoạn giữa hơi phình ra.

Câu chuyện kể rằng có cậu nho sinh nghèo chăm học nhưng thi hoài không đỗ, hết tiền đành đi ăn xin. Chàng đi ngang nhà bá hộ giàu có thì có cô bé người ở trong nhà mang cơm trắng cho ăn. Cứ như thế ngót cả năm trời, anh chàng mang lòng cảm kích.

Một hôm anh mở lời cảm tạ cô gái bấy lâu giúp đỡ nhưng lòng cảm thấy áy náy, nay sẽ sang làng khác, không làm phiền hơn nữa. Cô gái bảo rằng chỉ làm theo lệnh của tiểu thư, nếu anh muốn cảm tạ thì hãy tìm cô chủ. Chàng xin được gặp tiểu thư, cô hầu dắt anh vào khuê phòng. Vừa gặp cô gái dung mạo giai nhân, cốt cách phi phàm chàng liền hành lễ. Tiểu thư không nhận mà nói rằng: “Tôi đây biết chàng sa cơ lỡ vận nên mới ngỏ lòng giúp đỡ nhưng lẽ nào chàng là nam nhi mà lại cam chịu nhụt chí như vậy mãi hay sao?” Nàng mang cho chàng một bọc giấy rồi bảo: “Trong này là một số bạc và chiếc thoa vàng, mong chàng nhận lấy. Bao giờ chàng lập nghiệp thành công thì hãy về quê, lúc đó…” Nói rồi nàng lại ngượng ngùng bỏ đi, chàng vô cùng cảm động.

Chàng suy nghĩ mãi, nếu chốn quan trường đã không có duyên thì đành chọn đường khác, thế là chàng đã chọn một chữ “Nhạc”. Thế là chàng đi tìm cầm sư mà học, sau 3 năm cũng thạo nghề nhã nhạc, chàng về nơi xưa tìm cô gái. Nào đâu trước gia môn là một màu tang trắng cùng tiếng khóc thê lương. Thì ra người ơn năm xưa nay đã vì bạo bệnh mà từ trần, chàng muốn tâm sự cùng nàng những nỗi niềm bấy lâu nhưng tuyệt chỉ có hai người biết mà thôi. Chàng tìm bá hộ xin cho phường nhạc của mình được dùng tiếng nhạc mà chi đau sẻ buồn với gia quyến rồi tạo một chiếc trống nhỏ hau đầu đính hai nắm cơm trắng để gợi nhắc kỉ niệm ngày xưa, mảnh lụa trắng để đeo trống lên cổ như chiếc khăn tang tiễn nàng nơi cửu tuyền. Chàng đeo trống lên cổ, đặt trống ngang bụng, mười đầu ngón tay vỗ vào hai mặt như lời cảm tạ cũng như câu xin lỗi vì đã không cùng nàng nên duyên. Không ai biết rằng chàng nhạc công ấy đang dùng âm cung mà tâm sự với người thương bị chia cắt của mình, chiếc trống ấy cũng là nỗi đau bị chia cắt với mối tình đầu của người nghệ sĩ.

Mõ là một nhạc khí tự thân vang, phổ biến ở các nước Đông Á. Trên thực tế Mõ được sử dụng vào các môi trường khác nhau và có những chức nǎng khác nhau. Trước khi được biến tấu thành dạng tròn như ngày nay, mõ được thiết kế dùng để treo lên, người dùng đứng gõ vào thân, mõ hình thuôn dài được điêu khắc thành hình con cá rất tinh xảo, bụng cá được khoét rỗng tạo độ vang. Chính vì vậy mà ngày xưa thường gọi mõ là Mộc Ngư, cái tên và hình dáng của nó cũng gắn liền với một tích truyện Phật giáo.

Ngày xưa, có một vị Hòa thượng trụ trì một ngôi chùa ở gần bờ sông trong một thôn quê. Mỗi khi có việc ra tỉnh, ngài quá giang bằng chiếc đò ngang. Hôm ấy nhằm ngày 13 tháng bảy, ngài quá giang ra tỉnh để chủ lễ một đàn kỳ siêu. Khi đò ra tới giữa dòng thì thấy sóng nổi lên ầm ầm làm cho thuyền tròng trành muốn đắm. Ai nấy ở trên đò cũng đều hoảng hốt, thì ngay lúc ấy, bỗng nhiên thấy nổi lên trên mặt nước, một con cá kình rất lớn, dương hai mắt đỏ ngầu mà nhìn chăm chăm vào vị Hòa thượng kia. Nhưng Hòa thượng vẫn bình tĩnh ngồi niệm Phật.

Con cá liền cất cao cái đầu lên khỏi mặt nước mà lắp bắp cái miệng nói: “Hỡi hành khách ở trên đò, các người muốn được yên lành, hãy liệng lão ác tăng xuống đây cho ta, để ta nuốt chửng nó đi cho hả cơn giận. Các người có biết không? Ngày trước, ta theo lão tu đạo, lão không chịu giảng dạy chi cả, cứ buông lỏng cho ta muốn làm gì thì làm, không hề kiềm chế. Vì vậy, ta mới sinh ra lười biếng, chỉ lo rong chơi ăn ngủ theo thế tục, không thiết gì tới công phu bái sám, ăn chay niệm Phật và săn sóc công việc Chùa. Không những thế, mỗi khi có đám tiệc lại để cho ta mang hậu đắp y để khoe khoang với đại chúng và bổn đạo. Vì những tệ đoan như thế, nên sau khi ta chết, phải đọa vào loài súc sinh, làm thân cá kình, đi tới đâu thì ồ ạt tới đó, làm cho những tôm cá chạy đi hết, không có cái gì để ăn, phải chịu đói khát, rất cực khổ, khổ còn hơn loài quỷ đói nữa. Vì thế mà ta chỉ oán lão thôi, còn các người đối với ta vô can, ta không muốn làm hại ai cả”

Nghe cá nói xong, Sư liền mỉm cười mà đáp rằng: “Này nghiệt súc, nhà ngươi nói thế mới thật là thậm ngu. Há ngươi không hiểu câu phương ngôn ‘Ðạp gai, lấy gai mà lễ, hay sao?’ Nếu ngươi đã biết vì tạo những tội lỗi như thế mà phải đọa làm thân cá thì nhà ngươi cần phải ăn năn sám hối tội lỗi và tạo duyên lành, ngõ hầu mới được tội diệt phúc sinh, rồi mới mong thoát khỏi được quả báo. Ta là Thầy ngươi, mỗi khi dạy ngươi đúng theo giới luật, thì ngươi bảo là quá nghiêm khắc, hay la mắng quở trách, còn thả lỏng cho ngươi không nghiêm trị, thì ngươi quen tính phóng túng, thành thử mới phải đọa làm loài cá. Một khi bị đày, ngươi cần phải sám hối và báo cho ta biết để tụng kinh siêu độ và xả tội cho, còn nếu như muốn ăn thịt ta thì lấy ai để cứu ngươi nữa. Ðã có tội, không biết ăn năn mà còn kiếm cách đỗ lỗi cho người. Phạm Phật thì có Tăng cứu, còn như phạm Tăng thì Phật không độ. Ngươi có hiểu câu đó chăng?”

Sư cụ quở vừa dứt lời, thì cá Kình kia cũng lặn chìm xuống dưới đáy nước.

Kế đó, sau bảy ngày đêm vang tiếng tụng kinh cầu siêu độ tại chùa, thì cá Kình liền trồi lên mặt nước, lết thẳng tới sân Chùa, nằm dài và hướng vào trong Chùa mà nói rằng: “Bạch Thầy, mấy hôm nay, nhờ công đức của Thầy và chư Tăng Ni chú nguyện và tụng kinh siêu độ cho, nên con đã được tiêu nghiệp, thoát kiếp cá Kình và lên cõi trời Dục Giới. Trước khi lên cõi Trời để hưởng sự khoái lạc của chư tiên, con xin đến đây thành tâm lễ tạ ơn Thầy cùng chư Tăng Ni và con nguyện lưu cái xác thân cá Kình tại chùa để mỗi ngày, chư Tăng Ni cầm cây gõ lên đầu con, ngõ hầu làm gương cho những vị nào tu hành còn biếng nhác, ưa khoe khoang, tự cao, tự đại, không chịu khép mình vào vòng giới luật và cũng là để nhắc nhở cho những vị ấy nhớ tới bổn phận tu tâm, hành đạo, để khỏi xao lãng công phu bái sám, niệm Phật tu thiền, thúc liễm thâm tâm, nghiêm trì giới luật.”

Vì sự tích như đã kể ở trên, mà từ ngày ấy tới nay, Mõ mới được chạm khắc theo hình con cá để làm kỷ niệm mà thức tỉnh người tu hành. Chính vì thế trong tiếng Hán cũng như tiếng Nhật, tên gọi nhạc cụ này là Mộc Ngư (Cá Gỗ).

TRUYỀN THUYẾT ĐÀN LYRE

Lyre là một loại đàn dây có từ thời Hy Lạp cổ đại, nó được tạo ra từ một khung gỗ hoặc kim loại hình chữ U và những sợi dây căn đều theo kích thước lớn nhỏ. Loại đàn này có họ với đàn hạc và đàn khổng hầu ở Trung Hoa, nó được sử dụng trong các buổi tế lễ thời xưa. Theo thần thoại Hy Lạp, Hermes là người đã tạo ra đàn lyre và bàn giao nó cho Apollo.

Người góp phần lớn nhất trong việc sáng tạo cách chơi đàn lyre và thi ca là Orpheus, con trai của vua Oeagrus xứ Thrace và nữ thần thi ca Calliope. Bởi truyền thống nghệ thuật của gia đình, từ nhỏ Orpheus đã bộc lộ tài năng về âm nhạc và thi ca của mình. Có lời kể rằng mỗi khi chàng cất tiếng đàn thì cây cỏ ngừng đung đưa, muôn thú chẳng dám cất lời và thậm chí gió dừng thổi vì sợ làm gián đoạn khúc nhạc kia.

Sau này, Orpheus gặp được nàng Eurydice, họ yêu nhau như một cơ duyên tiền định từ những ánh mắt đầu tiên và sau đó họ đã cùng nhau tiến hành một lễ cưới linh đình. Cuộc sống của hai người cứ thế trôi qua và tình yêu ngày càng lớn dần, cho đến một ngày khi hai người đi dạo trong vườn và Eurydice bị một con rắn độc cắn phải. Orpheus đã tìm mọi cách cứu chữa cho vợ chàng nhưng cuối cùng đành phải bất lực nhìn người vợ yêu quý ra đi. Từ đó Orpheus sống như kẻ mất hồn, chàng quanh quẩn tìm kiếm hình bóng người vợ của mình và đến một ngày nọ khi không thể chịu được nỗi thương nhớ ấy, chàng đã xuống địa ngục để tìm Hades và cầu xin ông ta trả lại sinh mạng cho Eurydice.

Bằng tiếng đàn bi thương của kẻ mất đi tình yêu của đời mình, chàng đã lấy được nước mắt của gã lái đò địa ngục và con chó ba đầu Cerberus để đến gặp Hades. Trước Hades và hoàng hậu địa ngục – Persephone, Orpheus kể về nỗi lòng và sự đau khổ của mình khi mất vợ, rồi chàng cất lên một điệu nhạc từ tận đáy lòng mình… cả chốn địa phủ thê lương, từ những linh hồn vô cảm đến các vị thần đều không cầm được nước mắt trước khúc ca thuần khiết và bi ai. Persephone giàn dụa nước mắt, trong khi Hades lắc đầu thở dài, rồi họ đồng ý cho Orpheus dẫn Eurydice về nhân gian.

Trước khi trở về dương thế, Hades đã dặn dò Orpheus rất kĩ càng: “Trên đường dẫn Eurydice trở về, tuyệt đối không được nhìn lại dù chỉ một lần!” Orpheus nghe theo lời Hades và dẫn Eurydice đi, thoạt đầu chàng vẫn một mực không nhìn về phía sau nhưng đã quá lâu mà chàng không hề nghe thấy Eurydice lên tiếng hay thậm chí là hơi thở và tiếng bước chân của nàng. Bởi vì Eurydice vẫn chưa bước lên dương thế, nàng vẫn còn là người chết và dĩ nhiên chàng không thể nào cảm nhận được sự tồn tại của nàng, và thế là chàng bất giác nhìn lại phía sau. Người vợ của chàng bị hút về phía bóng đêm thăm thẳm và biến mất khi chàng còn chưa kịp gọi tên. Orpheus gào thét trong đau khổ và đuổi theo nhưng lão lái đò địa ngục đã không cho chàng qua sông lần nữa dù chàng đã quỳ mọp 7 ngày 7 đêm.

Orpheus trở về dương gian, dù cho bất kì một tuyệt sắc giai nhân nào ngỏ lời chàng vẫn không để ý và nhân thế gọi chàng là tên kiêu căng ngạo mạn. Trong một lần dự buổi tiệc của thần rượu nho Dionysus, do khước từ lời mời hẹn hò mà chàng đã bị một đám đàn bà say xỉn đánh chết, chúng vứt xác chàng xuống dòng sông lạnh giá cùng cây đàn Lyre gãy nát. Dù cho làn nước kia có lạnh lẽo băng giá đến đâu thì người ta vẫn nghe thấy tiếng đàn Lyre cất lên từ làn nước ấy, có lẽ Orpheus đã sống trọn vẹn với tình yêu của mình cho âm nhạc và cho Eurydice. Và có thể thấy, giữa cuộc đời này, những con người thực dụng tầm thường đã nhẫn tâm giẫm đạp lên tâm hồn những nghệ sĩ thuần khiết nhiều biết bao.

VÔ ƯU THẦN SÁO

Truyền thuyết kể rằng vì phải chia tay phu quân là Hậu Nghệ mà Hằng Nga Tiên Tử đã ngày đêm đau buồn, nàng tạo ra một loại nhạc khí là Quảng Hàn Vô Ưu Thần Sáo để giải trừ sầu bi. Cây sáo này được làm từ gỗ cây Thiên Niên Thần Ưu, cây này sống ở phía Bắc núi Hoa Sơn, một trăm năm nảy chồi, một trăm năm thành cây, ba trăm năm mới nở hoa, bông hoa màu trắng tinh khiết tựa như thiếu nữ xuân thời, nếu ai nhìn thấy hoa này thì sẽ quên hết mọi khổ lụy trần thế, an nhiên tự tại, trẻ mãi không già. Vào buổi yến tiệc của Vương Mẫu Nương Nương, sau khi chư vị tiên nữ múa xong vũ khúc nghê thường, công chúa Nguyệt Cung đã tấu khúc nhạc du dương bằng cây sáo thần của mình. Thân sáo lấp lánh như gom cả nhị thập bát tú vào mình, tiếng sáo thánh thoát vứt bỏ mọi tạp niệm, Hằng Nga tấu khúc nhạc Vong Ưu, chư tiên nghe đến đâu say sưa đến đó. Các vị tiên nữ khác thấy vậy đã thử lòng Hằng Nga, họ dùng pháp thuật tạo ra ảo ảnh của chàng Hậu Nghệ, khúc nhạc dừng lại, hai dòng lệ trên mắt nàng tuôn chảy, nhân ảnh của tình lang cũng là sắc bất dị không, không bất dị sắc, cuối cùng công chúa cung Quảng Hàn cũng không quên nổi hai chữ “tình si”. Nàng lẳng lặng bay về Nguyệt Cung để lại thiên binh thiên tướng ngẩn ngơ thơ thẩn, đến cả vị Thiên Bồng Nguyên Soái cũng hồn bay phách lạc.

Trở về bổn cung, Hằng Nga nhận ra dù có thanh âm trăm hỷ vạn hỷ cũng không giúp nàng quên nỗi sầu bi của mối tình ly tan, nàng đã uất ức ném cây sáo ấy khỏi thiên giới. Nó lưu lạc của trần gian, tương truyền rằng ai có được Quảng Hàn Vô Ưu Thần Sáo sẽ thoát khỏi mọi sầu bi khổ nạn, cải lão hoàn đồng, trường sinh bất tử. Thời Tây Hán có Hán Vũ Đế tham lam lại mê tín, ông ta một lòng muốn luyện thuật bất tử, vì ham muốn thanh xuân vĩnh cửu mà đã ra lệnh cho lê dân bá tánh đi tìm sáo thần mang về. Nhưng hầu như ai cất công đi tìm sao ấy nều mắc nạn vong thân. Lúc bấy giờ con trai ông ấy là Lưu An thái tử cùng hiền thiếp là Tầm Nguyệt không màng danh lợi, họ tình chàng ý thiếp ngao du sơn thủy khắp nơi. Trong một lần nghỉ ngơi tại Cổ Thạch Động, họ phát hiện luồng thần quang bạch sắc lan tỏa nên đã lần theo, trước mặt họ là cây Vô Ưu Thần Sáo, ánh sáng của nó như triệu vì tinh tú kết lại, không biết nó đã ở đó từ bao giờ nhưng cát bụi hầu như không thể xâm phạm sáo thần. Tầm Nguyệt am hiểu âm luật đã thổi thử một khúc, cây cối tức thì hồi sinh, toàn bộ mây mù xua đi, mặt trăng hiện ra sáng tỏ hơn cả ban ngày. Phu phụ Lưu An cúi xuống bái lạy Nguyệt thần ban cho sáo thần.

Hán Vũ Đế biết tin bắt Lưu An dâng sáo nhưng chàng không thuận, chỉ hứa mỗi năm sẽ vào điện thổi khúc nhạc Vong Ưu cho thánh thượng nghe một lần, như vậy cũng có thể hồi xuân. Hán Vũ Đế nghe vậy cũng chấp thuận, thế nhưng quý phi của ông là Trần Kiều lại không cam tâm, bà ta không muốn phải chờ đợi mỗi năm một lần mà mỗi canh giờ đều cho thổi sáo để trở thành quốc sắc thiên hương, xinh đẹp hơn cả Hằng Nga tiên tử. Thuyết phục Hán Vũ Đế không thành, mụ cho người giấu bùa chú trong nhà Lưu An rồi vu cáo cho chàng lập kế trù ếm hoàng thượng hòng soán ngôi, vua rất hồ đồ đã ra lệnh xử tử con trai và con dâu. Trần Kiều đã như nguyện, ả đoạt được Vô Ưu Thần Sáo. Lưu An trốn ngục bỏ chạy và được người anh em Lưu Đán cứu giúp, chàng cùng Tầm Nguyệt chạy đến bến sông thì quan quân đuổi theo, họ cùng quỳ xuống chắp tay và vái: “Cầu xin Nguyệt Thần Nương Nương gia hộ, phu phụ chúng con vì bảo vệ thần khí của người mà mới lâm nạn, xin cầu mong cứu giúp!” Tức thì từ dưới nước trồi lên một đảo nhỏ nâng gót vợ chồng Lưu An, thủy triều thì dâng cao chặn đoàn binh mã. Sau đó, Nguyệt Cung Công Chúa phái tiên nữ hầu cận thả chiếc thuyền rồng đến đón họ và đưa đi nơi khác. Có người nói Hằng Nga đã đưa họ đến một nơi sơn cước an bình, có người nói họ đã về cung Quảng Hàn sống bên cạnh Công Chúa.

Lại nói đến ác phụ Trần Kiều và hôn quân Hán Vũ Đế, họ cho mở đại tiệc ngoài trời, chiêu đãi bá quan văn võ. Ả Trần Kiều nôn nóng trong lòng đã đem Quảng Hàn Vô Ưu Thần Sáo mà thổi ngay. Thổi khúc thứ nhất, tóc ả bạc trắng. Thổi khúc thứ hai, da mặt ả co lại nhăn nheo. Thổi đến khúc thứ ba thì ả ngã lăn ra đất không đứng dậy được nữa. Từ trên cao, một người con gái nhan sắc mỹ miều hiện ra, nàng chính là Quảng Hàng Công Chúa Hằng Nga Nguyệt Thần Nương Nương. Cây sáo từ tay Trần Kiều đã bay vào không trung trở về mặt trăng, Hán Vũ Đế quỳ sát đất mà van vái: “Nguyệt Cung Công Chúa trừng phạt! Nguyệt Cung Công Chúa trừng phạt!”. Sau đó Trần Kiều vĩnh viễn bị giam vào lãnh cung, Hán Vũ Đế không hề tỉnh ngộ vẫn một lòng muốn trường sinh bất tử cuối cùng chết vì uống phải độc dược.

ĐÀN VĨ CẦM CỦA PAGANINI

(Truyện ngắn nguyên tác của Aleksandr Kuprin)

Số phận rất khắc nghiệt đối với chàng thanh niên Niccolo trẻ tuổi vào cái năm ấy, khi nợ nần, thất bại và hàng trăm chuyện khó chịu lẻ tẻ khác bắt anh phải chạy từ Venezia đến Vien. Ở đó anh – một người chơi đàn rong – kéo đàn trong các đám cưới, hoặc đem cây đàn rẻ tiền của mình mua vui trong các quán rượu tồi tàn nhất. Anh không được vào các khách sạn tử tế, vì bộ cánh tồi tàn gồm đầy những mảnh giẻ.

Nhưng ngày tồi tệ nhất, đáng nguyền rủa nhất đối với Niccolo là ngày 21 tháng 10. Suốt từ sáng sớm, trận mưa với tuyết lạnh lẽo cứ dai dẳng. Đôi giày rách của chàng nghệ sĩ ướt hết, nhão ra theo từng bước chân, làm bắn đầy bùn, còn Paganini thì ướt và bẩn như một chú chó pudel vừa mới chui từ đầm lầy ra.

Một buổi tối vàng đục báo đầy điềm gở trải ra trên thành phố. Những ngọn đèn đường hiếm hoi khó khăn lắm mới xuyên qua được màn mưa. Trong lúc thời tiết như thế, trái tim người ta ít cảm thông hơn với nỗi đau khổ và sự nghèo khó của người khác, trong khi người nghèo khổ thì cảm thấy cái lạnh, cái đói và cái cô đơn nghiệt ngã gấp đôi.

Suốt cả ngày hôm đó Paganini chẳng kiếm được xu nào.. Mãi đến tận tối muộn, một người thợ mạ thiếc say mới đưa cho anh một cốc bia chưa uống hết, sau khi đã hắt tàn từ trong tẩu thuốc của mình vào đó. Còn ở một chỗ khác, một anh sinh viên ăn chơi ném cho anh ba krejcer và nói:

– Này, cầm lấy tiền và đừng cò cử nữa nhé!

Paganini cầm món tiền ấy và nghiến răng: “Được! Khi mà ta sẽ nổi danh – mày sẽ nhớ đến ba krejcer này!”

Cần phải nói rằng, trái với mọi rủi ro, bất hạnh, Paganini chưa bao giờ nghi ngờ vào tài năng của mình. “Mình chỉ cần có bộ cánh tử tế, một dịp may, với một cây vĩ cầm tốt – và mình sẽ làm cả thế giới phải ngạc nhiên!”. Quán rượu cuối cùng đơn giản là quẳng Paganini ra phố, vì mỗi bước đi của anh dội ra sàn hàng vũng nước. Với ba krejcer, Paganini mua một mẩu bánh mì trắng nhỏ, và ăn không một chút hài lòng trên đường về nhà. Khi anh mệt mỏi leo lên tận tầng trên cùng, vào căn phòng bé xíu và trơ trọi trên gác xép của mình, thì sự tuyệt vọng khôn cùng và cơn giận dữ khủng khiếp chiếm lấy tâm hồn tối tăm của anh. Anh giậm chân vứt cây đàn vĩ cầm ẩm ướt tội nghiệp của mình vào góc, và lấy tay đấm ngực, hét lên:

– Hỡi quỷ sứ! Hỡi quỷ sứ! Nếu ngươi không phải là óc tưởng tượng ngu ngốc của đàn bà, nếu ngươi thực sự tồn tại, thì hãy đến với ta ngay! Đang có một linh hồn con người kiêu hãnh bán rẻ kèm theo tài năng nghệ thuật! Nhanh lên! Nếu không thì ngươi còn gì với một kẻ nghèo khổ đã treo cổ?

Và quỷ sứ xuất hiện ngay lập tức. Hoàn toàn không xuất hiện trong màn khói xám, với mùi kinh tởm của loài dê, không hề có móng chẻ đôi thay cho bàn chân, không hề có một dấu hiệu gì của đuôi – quỷ sứ xuất hiện trong hình hài của một công chứng viên hay luật sư đã hơi già, mặc một chiếc áo camisole xám tươm tất với đăng ten cũ đã hơi ngả màu vàng. Một lọ mực, một chiếc bút lông ngỗng và một quyển sổ hợp đồng cũ kỹ – hắn cầm theo tất cả những thứ đó, và không vội vã bày ra trên chiếc bàn khập khiễng. Ngọn lửa trong chiếc đèn dầu sáng bùng lên.

– Cậu thấy không, chàng trai – quỷ sứ bắt đầu nói rất điềm tĩnh – tôi đến gặp cậu hoàn toàn không có những sự ồn ào rẻ tiền chợ búa, không có bất kỳ thứ mùi kinh khủng nào của địa ngục, và cũng không đòi hỏi cậu phải ký bằng máu. Chúng ta hãy bỏ những thứ đạo cụ sân khấu ngớ ngẩn ấy cho óc tưởng tượng nghèo nàn và bệnh hoạn của thời trung cổ. Thế kỷ của chúng ta là thế kỷ của sự lịch sự, của văn xuôi và số học. Tôi cũng không giấu gì cậu, rằng chúng tôi, quỷ sứ ấy, nếu trung thực và phục vụ khách chu đáo thì còn tiện lợi hơn là một sự lừa dối đơn giản. Vì vậy, cậu đừng có ngạc nhiên, là trong hợp đồng của chúng ta tôi sẽ không chỉ là người mua, mà nếu cần, thì đôi lúc tôi sẽ còn là luật sư của cậu nữa. Trước hết: cậu muốn được gì đổi lấy linh hồn của mình?

– Tiền! Vàng! Vàng thật nhiều!

– Thấy chưa, cậu đã cần đến trợ giúp pháp lý của tôi rồi đấy. Không có gì dễ hơn việc đòi quỷ sứ cho vàng. Điều này thì một thằng ngốc nào cũng làm được. Thế cậu nghĩ gì về vinh quang nhỉ?

– Vớ vẩn! Vinh quang có thể mua bằng tiền. Chỉ cần đừng quá hà tiện là được.

– Ồ không đâu anh bạn, cậu nói thiếu suy xét rồi. Vàng chỉ có thể mua được bọn xu nịnh. Nhưng cái vinh quang ấy sẽ không vượt quá giới hạn của vòng tròn, tạo bởi những kẻ xu nịnh ấy, còn tâm chính là anh, bị điếc tai vì những lời xu nịnh thô thiển nhất. Không, tốt hơn là cậu hãy kể cho tôi về điều gì khác. Ví dụ, về tình yêu chẳng hạn.

– Quỷ bắt ngài đi! Chính tình yêu mới là thứ dễ mua nhất thì có!

– Tình yêu nào cũng thế ư? Cậu nghĩ thế à? Vô ích, hoàn toàn vô ích, Niccolo trẻ trung của tôi! Nếu như tình yêu nào cũng bán, thì cả trái đất này, toàn bộ vũ trụ này đã hoàn toàn thuộc về quyền lực tuyệt vời của Quỷ sứ từ lâu lắm rồi. Và chúng tôi, những cộng sự của Quỷ, đã sống sung túc nhàn hạ bằng lương nhà nước. Cậu muốn không, tôi kể cho cậu một bí mật khủng khiếp nhé? Cậu có biết tại sao Quỷ sứ lại bất hạnh đến thế không? Bởi vì Quỷ rất muốn yêu, bằng tất cả sức lực của mình, nhưng Quỷ không thể yêu… Không đâu, chàng trai, nếu cậu muốn ký hợp đồng với tôi, một hợp đồng có lợi và trọng danh dự với cả hai phía, thì hãy dừng lại với những điều kiện đầu tiên, khiêm tốn của cậu: bộ cánh tử tế, một dịp may và một cây vĩ cầm tuyệt diệu.

Paganini nghĩ ngợi vài phút rồi nói một cách không quả quyết lắm:

– Tôi không từ bỏ dự định của mình. Tôi có cảm giác rằng, có lẽ ngài đúng, ngài luật sư ạ. Nhưng liệu trong lúc khó khăn vội vàng tôi có hét một giá quá rẻ cho linh hồn bất tử của tôi, linh hồn đã bị kết án trước cho những đau khổ vô tận và vĩnh cửu?

Luật gia im lặng cúi xuống, lôi từ dưới bàn ra một cái bao đàn lớn cũ kỹ, đã mòn góc làm từ da trâu và cẩn thận đưa cho Paganini.

– Cậu có thể tự nhìn cây vĩ cầm, thậm chí thử nó. Cái này là hoàn toàn miễn phí.

Paganini kính cẩn tháo những khuy cài bằng đồng mạ vàng của bao đàn, rút ra và đặt lên bàn ba lớp khăn phủ bao quanh cây đàn: lớp khăn bằng da cừu, khăn nhung và khăn lụa, – và cây đàn vĩ cầm thần kỳ được nâng lên cao, hiện ra trong toàn bộ sự tuyệt vời, hình dáng giống than thể một người phụ nữ khỏa thân hết sức cân đối, với cái đầu nhỏ, cổ thon và dài, hai bờ vai thoai thoải, và sự chuyển tiếp hết sức hài hòa từ vòng eo nhỏ nhắn tới hông.

– Đây không phải là Stradivarius – Paganini kinh ngạc thốt lên – nhưng đây cũng không phải là Amati, không phải Guarneri và cũng không phải Guadagnini! Đây là lý tưởng của cây vĩ cầm, mà loài người sẽ không đi xa hơn được, không thể đi xa hơn được! Ồ, như vậy là ngài cho phép tôi được chơi nó một chút chứ?

– Ồ vâng, xin mời, – quỷ đồng ý một cách miễn cưỡng, buồn tẻ và không mất nhiệt tình. – Tôi đã nói với cậu rồi.

Đàn vĩ cầm đã được lên dây, và mã vĩ đã được bôi nhựa thông vừa đủ. Và khi Paganini vừa mới kéo một khúc tức hứng rực lửa mạnh mẽ, thì lần đầu tiên chính Paganini hiểu ra – anh có một tài năng lớn đến thế nào, tài năng mà cho tới giờ vẫn bị sự nghèo khó đè bẹp. Và anh nói gần như vui vẻ:

– Thưa chủ nhân, tôi sẵn sàng được phục vụ ngài, và rất cám ơn ngài vì những lời khuyên thông thái. Tuy nhiên, tôi muốn được biết – nếu điều này không làm ngài khó xử – tại sao ngài lại có vẻ chán nản và u buồn, cứ như là ngài giận tôi vậy?

– Nếu mà nói thực lòng, – quỷ đứng dậy nói, – tôi hơi thất vọng vì cậu thực ra lại tài năng hơn rất nhiều so với tôi có thể đoán trước. Nhưng lời hứa là lời hứa. Cây vĩ cầm này thuộc về cậu trọn đời. Còn đây là một túi vàng nhỏ – cho thời gian ban đầu. Ngày mai sẽ có người tới gặp cậu: một bác thợ may với bộ quần áo cung đình, và một thợ cắt tóc nổi tiếng nhất thành Vien, rồi ngày kia thì cậu sẽ biểu diễn tại cuộc thi âm nhạc trang trọng do chính hoàng tử nước Áo tổ chức. Còn bây giờ, xin cậu vui lòng ký vào đây. Tốt rồi. Merci và hẹn gặp lại, chàng trai trẻ.

– Chúng ta sẽ mau gặp lại chứ? – Paganini, anh chàng người Venezia láu lỉnh hỏi.

– Điều đó thì tôi không biết, – quỷ trả lời khô khốc. – Tôi nghĩ rằng đến hết thời hạn cậu được cấp, không gần hơn. Bởi vì cậu đâu có đòi tôi được trường sinh nhỉ? Tôi rất khâm phục, maestro!

Quỷ sứ không lừa nghệ sĩ vĩ cầm ở điểm nào. Mọi sự xảy ra theo đúng kế hoạch đã nói. Sau cuộc thi âm nhạc do hoàng tử tổ chức, ngôi sao danh vọng của Paganini lên tới đỉnh điểm, tỏa sáng rực rỡ và đến ngày nay vẫn còn lấp lánh. Nhưng chính Niccolo Paganini thì lại trở thành một người bất hạnh nhất trên trái đất. Những dục vọng không được thỏa mãn, tính háo danh không đủ no, lòng tham lam vô độ đối với tiền bạc, và cùng với đó là sự keo kiệt kinh khủng; sự ghen tị tột cùng không chỉ đối với các nghệ sĩ đã sống, các nghệ sĩ đương đại, mà còn cả đối với các nghệ sĩ vĩ cầm tương lai đã đốt cháy tâm hồn của Paganini. Nhiều khi ông viết các tác phẩm của mình trong những tổ hợp nốt hết sức khó khăn, mà chỉ có một mình Paganini kéo được. Nhưng vốn thừa nhận sự vô tận của nghệ thuật thầm nhắc, rằng một ngày nào đó sẽ có một nghệ sĩ vĩ cầm khác, sẽ kéo những tác phẩm ma quỷ đó còn hay hơn Paganini, và đi xa hơn Paganini. Và người đó, nghệ sĩ tương lai đó, đã bị Paganini căm thù từ trước.

Khi đã trở thành triệu phú, thì Paganini vẫn nhặt những mẩu giấy, những đoạn dây buộc và đủ thứ linh tinh trên phố, còn thức ăn hàng ngày của ông không bao giờ vượt quá một thaler.

Bao nhiêu mỹ nhân tuyệt vời bị quyến rũ bởi nghệ thuật quá mức tưởng tượng của Paganini đã đến với ông, dâng cho ông trái tim, số phận của mình, nhưng Paganini luôn luôn quay lưng lại họ một cách ghê tởm – ông tin tưởng rằng họ chỉ muốn vàng của ông. Còn đối với một phu nhân sang trọng, vợ của một quan chức cao cấp, người muốn cùng chia sẻ với ông cả vinh quang, lẫn sự giàu có với tình yêu và sự nhục nhã của ly dị, thì Paganini trả lời, ném lên bàn mấy đồng tiền xu: “Xin bà chuyển cho chồng bà ba krejcer này. Trước đây ông ta đã ném cho tôi ba krejcer để tôi không kéo vĩ cầm nữa; còn bà thì tôi mời bà đi, hiện giờ tôi bận tập đàn…”

Bao nhiêu bạn bè và người hâm mộ đích thực bị Paganini đẩy đi bằng những lời thô bạo: “Anh chỉ chạy theo tiền bạc của tôi, hoặc chỉ muốn được chia sẻ ánh vinh quang của tôi”. Quả thực, Paganini là một người đáng thương hại, ông rất đau khổ, và không hề có sự an ủi nào. Bởi vì ông chẳng tin ai.

Khi thời khắc cái chết của ông đã điểm, và Ngài luật sư xám đến bên giường, thì Paganini bình thản nói với ông ta:

– Thưa chủ nhân, tôi đã sẵn sàng. Nhưng tôi phải nói với ngài, rằng trong cuộc đời tôi không có niềm vui.

Ngài luật sư xám mệt mỏi phản đối:

– Chà, tôi cũng phải thừa nhận rằng tôi chẳng được lợi lộc gì từ ngài cả. Cả hai chúng ta đã ký một hợp đồng chẳng có lợi cho ai. Ngài nhìn danh sách các hợp đồng đây này. Trong đó còn chẳng hề có tên ngài. Cái tên ấy bị xóa, đã bị ai đó gạch bỏ. Ai đó, người mà chúng ta không dám gọi tên.

– Thế thì tôi còn có thể làm gì bây giờ? – Paganini khoan dung hỏi.

– Hoàn toàn không có gì cả, – Ngài luật sư xám trả lời. Hoàn toàn không có gì, bạn tôi ạ. Tôi đã không còn nợ nần gì với ngài ít ra bởi tôi đã không bỏ qua buổi diễn nào của ngài rồi. Điều này khiến cho tôi mất điểm đối với lãnh đạo bên tôi. Nhưng còn ngài, thì cũng sạch nợ với người kia, người mà không thể gọi tên được. Bởi vì, nghệ thuật đích thực không phải xuất phát từ chúng tôi, mà từ phía Người, còn ai sẽ tổng kết những chuyện này? Thôi vĩnh biệt ngài. Bây giờ thì đã là mãi mãi. Tôi để lại cây vĩ cầm cho ngài. Ồ không! Đừng lo cho tôi. Đây chỉ là mấy chuyện khó chịu lặt vặt công vụ thôi mà. Vĩnh biệt…

Sáng hôm sau người ta thấy nghệ sĩ vĩ cầm vĩ đại Paganini đã qua đời; trán ông và những nếp nhăn vẫn kiêu hãnh và nghiêm nghị như khi còn sống. Trên môi ông là một nụ cười hạnh phúc mãn nguyện. Cây đàn vĩ cầm của quỷ thì biến mất mãi mãi.

BÌNH LUẬN CỦA BẠN

avatar