Truyền thuyết về Ngưu Lang Chức Nữ

0
811

Trước khi trở thành câu chuyện tình yêu, Ngưu Lang Chức Nữ là thiên văn học. Người Trung Hoa cổ đại nhìn lên bầu trời đêm và nhận ra hai ngôi sao sáng nằm ở hai bờ dải Ngân Hà, không bao giờ chạm đến nhau. Sao Ngưu Lang là Altair trong chòm sao Đại Bàng, sao Chức Nữ là Vega trong chòm sao Thiên Cầm. Khoảng cách thực tế giữa chúng là mười sáu năm ánh sáng. Từ sự cô đơn của hai ngôi sao đó, người ta dựng lên cả một câu chuyện.

Theo dị bản phổ biến nhất, Chức Nữ là con gái của Vương Mẫu Nương Nương, chuyên dệt những tấm gấm ngũ sắc cho thiên đình. Một ngày nàng cùng các chị em xuống trần tắm ở hồ nước, Ngưu Lang nghe lời con bò thần liền lấy trộm y phục của nàng. Chức Nữ phải ra mặt để đòi lại, và theo phong tục thời đó, người con trai đã nhìn thấy mặt người con gái thì phải cưới nàng. Hai người thành vợ chồng, sống hạnh phúc và có với nhau hai đứa con.

Nhưng Vương Mẫu không chấp nhận. Một người phàm dám cưới tiên nữ là phá vỡ trật tự thiên địa. Bà kéo Chức Nữ trở về thiên đình, rút cây trâm cài tóc vạch một đường lên bầu trời. Sông Ngân Hà xuất hiện từ đó, rộng đến mức không thể bơi qua, sâu đến mức không thể dò đáy, chia cắt hai người vĩnh viễn.

Ngưu Lang gánh hai con đuổi theo nhưng chỉ đứng nhìn vợ ở bờ bên kia mà không làm gì được. Vương Mẫu sau cùng động lòng, hoặc theo dị bản khác là Ngọc Hoàng thương tình, cho phép hai người gặp nhau mỗi năm một lần vào đêm mùng bảy tháng bảy âm lịch. Ngày đó được gọi là Thất Tịch.

Nhưng giữa hai bờ sông Ngân không có cầu. Đàn quạ trên khắp thế gian tình nguyện bay lên trời, xếp thành hàng kết cánh lại với nhau tạo thành cầu Ô Thước, cho hai người bước qua mà gặp mặt. Sau khi Ngưu Lang và Chức Nữ bước lên cầu, nhìn xuống thấy bên dưới là hàng nghìn con quạ chen chúc lộn xộn, họ ra lệnh quạ phải nhổ lông đầu mỗi khi làm cầu. Vì thế quạ vào tháng bảy thường xơ xác trọc đầu, dân gian quan sát điều đó và giữ lại như một chi tiết giải thích cho một hiện tượng thật.

Cuộc gặp gỡ chỉ kéo dài một ngày. Khi chia tay, nước mắt của hai người rơi xuống trần thành mưa. Người Việt gọi đó là mưa ngâu, thứ mưa phùn dai dẳng đặc trưng của đầu tháng bảy âm lịch, và gọi hai nhân vật là Ông Ngâu Bà Ngâu.

Điều ít người để ý là câu chuyện này không có kẻ phản diện rõ ràng. Vương Mẫu không sai khi bắt Chức Nữ trở về, vì tiên nữ có trách nhiệm riêng. Ngưu Lang cũng không hoàn toàn vô tội khi lấy trộm y phục. Hai người yêu nhau thật, nhưng cái giá họ phải trả là mỗi năm chỉ có một ngày. Tần Quan đời Tống viết câu thơ trở thành kinh điển: nếu đã yêu nhau dài lâu, thì đâu cần sớm tối bên nhau. Người ta trích câu thơ đó vào ngày Thất Tịch như một lời an ủi, nhưng thực ra đó là nỗi đau được bọc trong ngôn ngữ đẹp.

Câu chuyện sống sót qua hơn hai nghìn năm không phải vì nó có kết thúc có hậu. Mà vì nó nói thật về một điều mà ai cũng từng biết: yêu nhau mà không được ở bên nhau.