Thiên Hậu Nương Nương

0
1727

Trong hàng trăm vị thần được thờ phụng trong thế giới Hoa ngữ, Thiên Hậu Thánh Mẫu có lẽ là người duy nhất được xác định là một con người thật với tên tuổi, quê quán và năm sinh cụ thể. Bà không phải thần tiên từ thượng giới, không phải anh hùng truyền thuyết mờ nhạt. Bà là Lâm Mặc Nương, con gái một ngư dân ở đảo Mi Châu, Phúc Kiến, sinh vào thời nhà Tống.

Cái tên Mặc Nương có nghĩa là cô gái im lặng, đặt vì khi bà chào đời không khóc như những đứa trẻ khác. Sự im lặng đó không phải điềm xấu mà là điềm lạ. Ngay từ thuở nhỏ bà đã trầm tính và dành toàn bộ tâm trí cho việc học hỏi. Tám tuổi biết đọc, mười một tuổi thông thạo kinh Phật và tài liệu Khổng Tử. Năm mười ba tuổi, theo một dị bản, một đạo sĩ đến thăm, nhận ra thần tính trong bà và trao cho bà bộ bí quyết tu đạo. Bà còn tìm thấy dưới đáy giếng một xấp cổ thư, luyện tập theo đó mà đắc đạo.

Năm mười sáu tuổi, Lâm Mặc Nương trở thành người nổi tiếng trên đảo vì khả năng xem thiên văn, dự đoán thời tiết, cảnh báo ngư dân tránh bão. Bà thường mặc váy đỏ đứng trên bờ biển chỉ dẫn tàu thuyền qua những vùng nguy hiểm. Khả năng bơi của bà cũng phi thường, và bà học được phép thu phục hai hung thần biển là Thuận Phong Nhĩ và Thiên Lý Nhãn, một vị nghe thấu nghìn dặm và một vị nhìn thấu nghìn dặm, sau đó trở thành hai tướng hầu cận bảo vệ bà.

Câu chuyện nổi tiếng nhất về bà xảy ra trong một cơn bão lớn. Cha bà tên Lâm Nguyện cùng hai người anh đang chở muối đi bán ở Giang Tây thì thuyền lâm nạn giữa biển khơi. Lâm Mặc Nương đang ngồi dệt vải bên mẹ thì đột nhiên rơi vào trạng thái bất động. Trong giấc xuất thần, bà dùng miệng cắp dây áo của cha, hai tay nắm chặt hai người anh, dùng thần lực giữ họ khỏi bị sóng cuốn. Đúng lúc đó, người mẹ thấy con gái ngồi im như người chết liền lay gọi. Mặc Nương hở miệng trả lời, sóng liền cuốn cha đi mất. Chỉ cứu được hai anh.

Sự việc sau đó lan ra khắp vùng duyên hải. Ngư dân và thương nhân đường biển bắt đầu khấn vái tên bà mỗi khi gặp nguy nan trên biển, và người ta kể lại rằng nhiều lần có bóng cô gái mặc đỏ xuất hiện trên mặt sóng dẫn đường cho tàu thuyền thoát nạn. Bà mất năm hai mươi tám tuổi theo hầu hết các ghi chép, khi đang thiền định trên núi thì có ánh sáng rực rỡ xuất hiện và bà bay về trời. Dân làng dựng miếu thờ, gọi bà là Thông Hiền Linh Nữ.

Từ đó tín ngưỡng thờ bà lan ra khắp vùng duyên hải Trung Hoa. Triều Tống phong bà là Thần Nữ, triều Nguyên phong Thiên Phi, đến thời vua Khang Hy nhà Thanh mới chính thức có danh hiệu Thiên Hậu Thánh Mẫu mà ngày nay người ta quen dùng. Đô đốc Trịnh Hòa trong những chuyến thám hiểm đại dương đầu thế kỷ mười lăm tin rằng bà đã che chở đoàn tàu qua bao nhiêu hiểm nguy, và từng xin triều đình xây cung điện để tạ ơn.

Khi người Hoa di cư xuống phương Nam, họ mang Thiên Hậu theo. Hơn một nghìn năm trăm ngôi miếu thờ bà trải rộng khắp hai mươi sáu quốc gia. Ở Nam Bộ Việt Nam, gần như không có vùng đất nào không có Chùa Bà. Tên gọi thay đổi theo vùng, Ma Tổ, Mã Châu, Thiên Hậu, nhưng tất cả đều hướng về cùng một người: cô gái im lặng từ đảo Mi Châu, người đã dùng miệng cắp áo cha giữa sóng bão mà để rồi lỡ tay buông ra mãi mãi.